July 22, 2026 (TM)
I am nobody:
A red sinking autumn sun
Took my name away
(Richard Wright)
Tôi không là ai cả: Mặt trời thu đỏ rực đang lặn dần đã lấy mất tên tôi.
Có lẽ đó là một chiếc bóng trên bãi biển đang đứng nhìn mặt trời lặn. Trước bao la biển cả giữa màu đỏ thắm của mặt trời vùng vẫy ngàn khơi một cảnh tượng siêu nhiên khiến cái “tôi” của chiếc bóng tan thành sương khói, sự hiện diện quá rực rỡ này của vầng thái dương đã biến chiếc bóng thành một thực thể nhỏ bé không tên.
Bạn yêu dấu,
Tôi đang mượn những câu thơ Haiku trên để nói lên trạng thái “không là ai cả” của chính mình mỗi khi đứng chờ bóng tối buông trên biển cả. Khi ánh sáng cuối cùng của ngày chìm trên mặt biển và những con chim hải âu bay đi tìm nơi nương náu thì bầu trời và biển cùng một màu đen thẳm. Trong trạng thái tĩnh lặng và vô ngã ấy, giữa một miền bí ẩn mênh mông là cái đẹp tuyệt diệu đang bao trùm lấy vạn vật.
Bóng tối bắt đầu cất tiếng. Thế giới trở nên mong manh, dịu dàng trở lại và tràn ngập những khoảnh khắc im lặng đẹp đến nghẹt thở. Ngay trong im lặng ấy, tôi có thể thấy được sắc violet, màu xanh indigo, màu lục trong bầu trời cuồn cuộn run rẩy của van Gogh, những màu sắc mà ông dùng để thay thế màu đen. Có biết không, Van Gogh không bao giờ dùng màu đen cho bóng tối. Ah, tôi phải kể về căn phòng nơi ông nằm bệnh tại Saint-Paul de Mausole ở Saint Remy. Hôm đó tôi đi với Nguyệt Ca và Lionel. Nhớ không Nguyệt, buổi trưa, từ cửa sổ phòng của Van Gogh nhìn xuống cánh đồng bên dưới, bóng đổ từ những cành cây cao vẽ ra chằng chịt trên mặt đất những vệt đen ám ảnh, nhắm mắt, Mai có thể tưởng tượng được cảnh trời đêm của Nuit étoilée qua đôi mắt ông khi ông biến một chương sách đầy mãnh liệt của cuộc đời minh thành nghệ thuật.
Đã bao lần tôi viết về bóng tối, về sự hiền hòa khi giúp ta không thấy rõ mặt nhau, về những bức tượng thiêng liêng quanh tôi chỉ cất tiếng sau khi ánh sáng ban ngày tắt, về bóng tối cô độc trong những bức tranh của Van Gogh, bóng tối buồn không lời trong Serenade của Schubert, bóng tối sầu thẳm màu cỗ đồng thoát ra từ những chiếc saxophone của Adolphe Sax ở Dinant, hay bóng tối mà Chimene chờ đợi để khóc trong Le Cid của Corneille….Và bao giờ cũng như bao gìờ, ý nghĩ của tôi luôn quay về những nơi như thế. Trong nhiếp ảnh, tôi thường huớng đến những nơi có silhouette xa xa không rõ nét một sự nhẫn nhục khiêm nhường, những bóng đen trong đêm hay trong ánh sáng ngược, khuôn mặt bị khuất đi để chỉ trở thành biểu tượng. Có lần bạn tôi hỏi tại sao Mai chỉ chụp sau lưng, Diệu ơi, đó chỉ là cách Mai mong “đừng cho tôi thấy hết tim người”. Còn gì buồn hơn khi thấy được những khiếm khuyết xấu xa ẩn sau mặt người.
Viết đến đây tôi bỗng nhớ đến một cảnh bắn giết đầy ám ảnh trong phim Road to Perdition. Những bóng người bị bắn ngã trong đêm, không âm thanh, không tiếng súng, ta chỉ thấy họ bước ra từ bóng tối tựa như những bóng ma. Sự bất động tuyệt đối của toàn khung cảnh trong tối mà luồng sáng hắt ra từ phía sau đầy ghê rợn của chính những kẻ sát nhân. Trời ơi, thật là một cảnh tượng sáng tối đẹp đến rùng mình. Hai mươi bốn năm trôi qua rồi còn gì khi tôi xem phim đó ở rạp, 2002, nhưng mỗi lần nghĩ đến bóng tối là cảnh đó lại hiện ra trong đầu, những bóng người giật lên vì bị trúng đạn im lìm rơi xuống trong bóng mờ của mưa đêm, tiếng piano cùng phần đàn dây trầm buồn mênh mang gói trọn bầu không khí bi tráng và nặng nề của khoảnh khắc ấy. Người cinematographer đã xử dụng bóng tối một cách tài tình, những nhân vật thường xuất hiện trong màn tối, họ chỉ bước ra ánh sáng khi sự thật đau lòng được phơi bày hoặc khi phải đối mặt với định mệnh nghiệt ngã không thể tránh khỏi. Conrad Hall, cinematographer của phim, thường quay cảnh một cách thiếu sáng (underexposure), và phản chiếu ánh sáng từ các nguồn nhỏ vào một tấm hắt sáng màu trắng; giúp lấp đầy các vùng tối bằng luồng sáng nền dịu nhẹ. Ông đã dùng triết lý chiếu sáng này để làm nổi bật bầu không khí đẫm thơ phảng phất u buồn bi tráng của bộ phim, cho phép bóng tối chiếm ngự màn ảnh trong khi luồng sáng “room tone” nhẹ nhàng làm lộ rõ gương mặt của các diễn viên.
Rồi bài thơ ngắn ngủi “Trois allumettes” của Prévert mà tôi rất thương cũng là cả một vũ trụ ẩn mình trong bóng tối – Khuôn mặt của người yêu trong ánh sáng chói chang phơi bày toàn bộ nhan sắc của nàng, nhưng vẻ đẹp ấy tầm thường biết bao. Hãy tắt đèn đi, chỉ bật lên một que diêm, mắt nàng bắt lấy ánh rung động của que diêm, thốt nhiên bừng lên một ánh hiền hòa – thứ ánh sáng dường như tuôn trào từ sâu thẳm bên trong của tâm hồn. Cả vũ trụ yêu thương nằm trong bóng tối quanh nàng mà dưới ánh sáng chói chang không hề cảm nhận được.
Bạn yêu dấu,
Tha thứ cho tôi những dòng lung tung đêm nay. Chỉ có mỗi ý niệm về cái đẹp trong bóng tối mà tôi viết miên man. Bóng tối ôm ấp linh hồn của những cái đẹp sâu sắc mà dưới ánh sáng ban ngày ta không cảm nhận được đã làm nó trở nên một đề tài phi thường trong mọi khía cạnh của nghệ thuật. Tôi muốn nán lại chốc lát nữa để nói về bóng tối trong nghệ thuật và đời sống của người Nhật, về cuốn sách nhỏ In Praise of Shadows của Tanizaki tôi gối đầu giường bao năm nạy, nhưng đêm đã khuya bên này bờ đại dương, tôi chỉ có thể trích một đoạn ngắn về sự tĩnh lặng an nhiên bất biến ta cảm nhận trong bóng tối:
Vẻ đẹp của góc tường ấy chẳng phải là kết quả của bất kỳ thủ pháp khéo léo nào. Một khoảng trống được tạo ra bởi những mảng tường và thanh gỗ mộc mạc, để rồi ánh sáng lọt vào đó tạo nên những vệt bóng mờ ảo giữa hư không. Chỉ có vậy thôi. Thế nhưng, khi nhìn vào khoảng tối tụ lại sau thanh xà ngang, quanh bình hay bên dưới những kệ gỗ, dù thừa biết đó chỉ là bóng tối, ta vẫn trào dâng một cảm giác rằng nơi góc nhỏ này, một sự tĩnh lặng tuyệt đối đang ngự trị; rằng chính nơi đây, giữa màn đêm, một sự an nhiên bất biến đang bao trùm tất cả.
Bonne nuit!
Dodo l’enfant do.
Ngủ đi con.
Tống Mai
Virginia, July 22, 2026
Voilà combien de jours, voilà combien de nuits,
voilà combien de temps que tu es reparti
Tu m’as dit cette fois, c’est le dernier voyage
Pour nos cœurs déchirés, c’est le dernier naufrage
Que tout le temps qui passe ne se rattrape guère,
que tout le temps perdu ne se rattrape plus














Bóng tối trong ảnh chị không là bóng tối. Là những thênh thang ảo diệu.
Đây là ai? Sao ẩn mặt?
Chị có thể đoán được qua lối viết rất quen thuộc.
Sang năm về, dù ở Huế hay Sài Gòn, có duyên chị sẽ gặp
Lúc đầu chị cũng hơi ngại ngại vì cái tên lạ quá giống như spam vậy, nhưng cái comment thì thật là thân thuộc phảng phất Hạnh nên chị biết đó không phải là spam.
Và đúng đó là Hạnh : )
In Praise of Shadows – Jun’ichirō Tanizaki:
Cuốn sách bé tí về sự tương phản giữa thẩm mỹ truyền thống của người Nhật với quá trình hiện đại hóa theo kiểu phương Tây. Tanizaki cho rằng truyền thống nghệ thuật Nhật Bản thăng hoa nhờ những sắc thái tinh tế, bóng tối và vẻ đẹp nhuốm màu thời gian. Ông bày tỏ nỗi tiếc nuối khi thấy sự hiện đại hóa cùng ánh sáng nhân tạo đang đe dọa vẻ đẹp đầy tinh tế này.
Đó là một bi ai cho những gì đẹp đã đánh mất
Nói sao cho vừa những cảm xúc dâng trào khi đọc bài viết và xem những tác phẩm của chị.
Toàn thể là the sound of silence đó Mai ạ.
Ma (間)
❤️
Có một cảm nhận nào đó lay động tâm hồn tôi qua bài viết và hình ảnh của Mai, tất cả điều đó được gói gọn trong khái niệm của “MA”.
Trước một thế giới hiện tại ám ảnh bởi những “hỗn độn”, “ồn ào”, đầy “kích thích và thách thức”, có một điều gì đó khác biệt sâu sắc của ý thức “MA”. Đó là một cách nhìn. Một cách sống. Một cách lắng nghe những điều không được nói ra, nó thường được dịch là “khoảng lặng” hoặc “sự tạm dừng”, một khoảng trống đầy ý nghĩa.
Khác với không gian trống rỗng, Ma là sự đầy đủ, sự hiện diện không ồn ào, sự tĩnh lặng mang lại nhịp điệu và hình dạng cho cuộc sống.
Ngồi nhìn qua khung cửa sau vườn, tôi nghĩ đến Bát Nhã Tâm Kinh, “Sắc bất dị không, không bất dị sắc – sắc tức thị không, không tức thị sắc”. Một sự “trống vắng” nào đó của “không” cũng quan trọng không khác gì sự “hiện diện” của “sắc”.
Tôi trích lại câu nói của nhà phê bình văn hóa Nhật Bản Junichiro Tanizaki: ” We find beauty not in the thing itself but in the patterns of shadows, the light and the darkness, that one thing against another creates”.
Cám ơn Mai những ý tưởng và hình ảnh quá tuyệt vời.
Người Nhật có những triết lý sống tinh tế. Mai nghĩ điều đó đã tách rời họ ra khỏi thế giới đảo lộn của giá trị con người ngày nay.
Cách họ đón nhận bóng tối trong cuộc sống, cả không gian sống và thẩm mỹ của họ thật đáng chiêm ngưỡng. Bóng tối làm dịu đi những khuyết điểm theo cách phản ánh triết lý Wabi-Sabi, nó giúp cho họ có một cách nhìn đời chậm rãi, yên bình và sâu sắc.
“Je suis comme je suis”
“Je suis faite comme ça”
“Người về soi bóng mình giữa tường trắng lặng câm “
* Trên giọt máu cuồng điên
Con chim đứng lặng câm
Không còn không còn ai
Ta trôi trong cuộc đời
Không chờ không chờ ai
Em về hãy về đi
Ta phiêu du một đời
Hương trầm có còn đây
Ta thắp nốt chiều nay
Xin ngủ trong vành nôi
Ta ru ta ngậm ngùi
Xin ngủ dưới vòm cây
* Người nhìn mãi theo từng chuyến xe ngựa qua rồi
Người nhìn dấu xe lăn đi dấu lăn trên đời
Ngựa xa rồi, người vẫn ngồi, bụi về với mây
Người còn đó gieo hạt lúa trên ruộng đất này
Người còn đó nhưng bơ vơ mắt chong đêm dài
Ngựa xa rồi, ngựa xa rồi, trên ngày tháng vơi
Thank you cô Mai for sharing your thoughts and feelings. Hope all is well.
Mai cám ơn chị.
Same to you, please take care.
“Đó là một bi ai cho những gì đẹp đã đánh mất “
Bóng tối cũng là một đe dọa.
The aesthetics of shadows:
In the Mood for Love: youtube.com/watch?v=f1w4qnfux-o
Seven Samurai: youtube.com/watch?v=S5yCPTQgelM
Gởi Mai:
The Beauty of Akira Kurosawa:
youtube.com/watch?v=_WCFU6Z0w04
Mai vẫn luôn ngưỡng mộ những directors của Nhật. Akira Kurosaki thì bái phục và thương nữa. Wong Kar-wai của Tàu cũng tuyệt vời không kém một cách lãng mạn. “In the Mood for Love” đầy chất thơ: Cinematography, nhất là cách xử dụng deep shadows, chiaroscuro…. rất Caravaggio, Rembrandt, và Vermeer.
Bài viết đề cập đến nhiều khía cạnh nghệ thuật và cảm nghiệm về shadows trong từng paragraph, dẫn người đọc chiêm nghiệm xa hơn. Vi dụ như khi Mai nói bóng tối hiền hòa vì nó giúp ta không thấy rõ mặt nhau,
Đang chờ những bài viết kế tiếp của Mai về những đề tài đó.
Có điều gì rất lặng lẽ trong sự chậm rãi, từ tốn, khiêm nhường của cung cách người Nhật trong mọi khía cạnh của đời sống mà Mai không ngừng ngưỡng mộ. Trong photography, họ có một lối nhìn rất khác biệt với phương Tây, nhất là về khía cạnh đón nhận shadows, imperfection… của họ.
Mai nghĩ càng ngày nhiếp ảnh phương Tây càng nhận ra giá trị của triết lý sống của người Nhật và adopt sự tối giản minimalism trong photography, nghiên về chiều sâu cảm xúc ý nghĩa hơn là kỷ thuật chính xác.
Photographs that feel like memory:
youtube.com/watch?v=rVHgcyH0fQk
“Yasuhiro Ogawa — a photographer whose images don’t explain themselves, but linger quietly, like fragments of memory. Ogawa’s photographs are built on softness, distance, and atmosphere. Light drifts rather than defines. Figures appear and disappear. Nothing is resolved, yet everything feels emotionally precise. His work invites us to slow down, to stop decoding photographs and start feeling them instead.”
He reminds us that photography isn’t only about what is seen, but about how seeing makes us feel.
Hay quá. Cảm ơn chị Mai.
Có khi những bức ảnh mãnh liệt nhất lại là những bức ảnh cất tiếng rất lặng lẽ.
So truth!
I love your work.
I am doing new lamps now combining my sculptures with lamps.
I can’t help smiling at that artistic idea.
I will stop by the studio this weekend, dear Shara.