Tình yêu lấp đầy những vết nứt quạnh hiu – Tống Mai

Feb 14, 2026 (TM)

L’amour comble
les lézardes
de la solitude.

Tình yêu lấp đầy những vết nứt quạnh hiu.

Tình yêu và hiu quạnh – André Comte-Sponville đã nghĩ về tình yêu như thế. Nhưng tôi, tôi không có được những ý tưởng thơ mộng về tình yêu, tôi chỉ biết đến tình gia đình, là nghĩa nặng keo sơn, là hy sinh, là bao dung, là sống chết cho nhau.

Bạn yêu dấu,
Hôm nay, tôi không có một câu chuyện lứa đôi nào để kể, những thơ mộng ngày xưa đã chấm dứt. Còn nhớ không cuốn truyện nhỏ “Hoa Bướm Mùa Xuân” mà tôi có thể gấp lại đọc từ trang đầu đến trang cuối đã qua đi một thuở hồng hoang.  Thay vào đó, hãy đọc lại với tôi một đoạn nhỏ về câu chuyện của một đôi chim bị bắn chết giữa đen tối của tim người.

Tha thứ khi tôi gởi lại câu chuyện “Amour” của Guy de Maupassant vào những ngày cuối năm, chỉ một đoạn nhỏ thôi bởi vì đôi chim trong truyện chinh là định nghĩa của tình thương, đó là tình thương như “cây thánh giá hiện ra với những con chiên ngoan đạo đầu tiên giữa bầu trời”.

Đêm đã khuya. Tôi sẽ ngủ sau khi dịch xong. Tôi đang ở đoạn cuối khi con chim trống thảm thiết vần vũ trên trời quanh con mái đang nằm chết trên mặt đất gần chân người bắn nó. Hai kẻ săn đang đợi con trống lại gần xác bạn để bắn, họ không nhặt con chim đã bắn được lên để dụ nó quay trở lại. Và y như thế, bất chấp nguy hiểm, bất chấp họng súng, con trống bay trở lại hạ mình trên xác bạn. Súng nổ. Nó rơi thẳng một đường xuống đám lau….

Tôi cảm thấy lạnh. Tuyết ngoài kia đã tan nhưng sao tôi cóng cả người.

“Tình thương không có cái chết. Dù thân xác có chết, tình thương vẫn còn. Tình thương chính là sự sống. Ai bảo hai con chim đã chết? Chúng đang yêu nhau trong lương tâm của người nổ súng.” Tôi nhớ mãi câu đó.

Bonne nuit!

Tống Mai
Feb 14, 2026

 

 

AMOUR
(Dans Le Horla, 1895, pp. 71-84)
Guy de Maupassant
(Tống Mai chuyển ngữ)

…Tôi vừa đọc một bài báo về một vụ án tình. Anh ta giết cô ấy, rồi tự sát, vậy là anh ta yêu cô ấy. Câu chuyện có ý nghĩa gì đâu? Chỉ có tình yêu của họ mới quan trọng với tôi; nó không làm tôi hứng thú vì nó lay động tôi, hay làm tôi kinh ngạc, hay khuấy động cảm xúc của tôi, hay làm tôi suy nghĩ, mà vì nó gợi đến một ký ức thời trẻ của tôi, một ký ức kỳ lạ về một cuộc săn bắn nơi Tình yêu hiện ra như những cây thánh giá với những người Kitô đầu tiên giữa bầu trời.

Tôi sinh ra với tất cả bản năng và giác quan nguyên thủy được tôi luyện bởi lý trí và cảm xúc của một người văn minh. Tôi đam mê săn bắn; và những con vật rướm máu, máu trên lông, máu trên tay tôi, siết chặt trái tim tôi đến mức gần như ngất đi.

Năm đó, vào cuối mùa thu, thời tiết lạnh giá bất ngờ ập đến, và tôi được một người anh họ triệu tập đi săn vịt trong đầm lầy lúc bình minh.

Anh họ tôi, một người đàn ông vạm vỡ khoảng bốn mươi tuổi, tóc đỏ, rất khỏe và râu rậm, một quý ông thôn quê, một người tốt bụng, có phần thô lỗ, vui vẻ, sở hữu sự hóm hỉnh kiểu Pháp khiến sự tầm thường trở nên dễ chịu, sống trong một trang trại kiên cố ở một thung lũng rộng lớn có dòng sông chảy qua. Rừng bao phủ những ngọn đồi, những khu rừng cổ kính của trang viên nơi vẫn còn những cây cổ thụ hùng vĩ và nơi người ta có thể tìm thấy những loài chim săn quý hiếm nhất. Đại bàng và những loài chim thiên di hầu như luôn dừng chân trên những cành cổ thụ này như thể chúng biết hoặc nhận ra một góc rừng nhỏ từ những ngày xưa cũ, vẫn còn đó để làm nơi trú ẩn cho chúng trong những đêm dừng chân ngắn ngủi.

Trong thung lũng, có những đồng cỏ rộng lớn được tưới nước bởi những kênh mương ngăn cách bởi những hàng rào; xa hơn nữa, dòng sông trải rộng thành một vùng đầm lầy rộng lớn. Đầm lầy này, bãi săn tuyệt vời nhất mà tôi từng thấy, là tâm điểm duy nhất của anh họ tôi, người đã chăm sóc nó như một công viên. Giữa những đám lau sậy khổng lồ bao phủ nơi đây, tạo nên sự sống động xào xạc, nơi những chiếc thuyền lặng lẽ lướt trên mặt nước tĩnh lặng, chạm vào những đám lau sậy, khiến những con cá nhanh nhẹn chạy trốn qua đám cỏ và những con gà gô hoang dã lặn xuống, đầu đen nhọn hoắt của chúng biến mất đột ngột.

Tôi yêu nước với niềm đam mê mãnh liệt: biển cả, dù quá rộng lớn, quá dữ dội, không thể nào sở hữu; những dòng sông, đẹp nhưng phù du, rút dần rồi biến mất; và trên hết, là những đầm lầy, nơi sự sống bí ẩn của các thủy sinh đang rộn ràng. Đầm lầy là cả một thế giới riêng, một thế giới khác biệt, với sự sống riêng của dân địa phương và lữ khách ghé thăm, những giọng nói, những âm thanh, và trên hết, là sự bí ẩn của nó. Đôi khi, không gì đáng lo ngại, khó chịu và đáng sợ hơn một đầm lầy. Tại sao lại có nỗi sợ hãi bao trùm những vùng đồng bằng trũng thấp, ngập nước này? Phải chăng đó là tiếng rì rầm khe khẽ của lau sậy, những đốm sáng ma trơi kỳ lạ, sự im lặng sâu lắng bao trùm những đêm tĩnh mịch, hay có lẽ là những màn sương kỳ dị bám vào cỏ lau như áo choàng của người chết, hoặc là tiếng sóng vỗ rì rào không thể nhận ra, nhẹ nhàng, dịu dàng, và đôi khi còn đáng sợ hơn cả tiếng súng hay tiếng sấm sét, khiến những đầm lầy giống như những vùng đất trong mơ, đáng sợ, đầy bí ẩn và hiểm nguy.

Không. Một điều gì khác xuất hiện, một bí ẩn khác, sâu sắc hơn, nghiêm trọng hơn, lơ lửng trong màn sương dày đặc, có lẽ chính là bí ẩn của sự sáng tạo! Chẳng phải chính trong dòng nước tù đọng và bùn lầy, trong độ ẩm cao của vùng đất ẩm ướt dưới cái nắng gay gắt, mà mầm sống đầu tiên đã cựa quậy, rung động và vươn mình đón ánh sáng hay sao?

Tôi đến nhà người anh họ tối hôm đó. Trời lạnh cóng. Buổi tối, tại căn phòng lớn với những chiếc tủ đựng đồ, tường và trần nhà được trang trí bằng những con chim nhồi bông, soải cánh hoặc đậu trên cành cây – diều hâu, diệc, cú, kền kền và chim ưng – người anh họ của tôi, trông giống như một loài động vật kỳ lạ đến từ vùng đất lạnh giá, mặc một chiếc áo khoác da hải cẩu, đang kể cho tôi nghe về những sắp xếp mà anh ấy đã thực hiện cho đêm đó.

Chúng tôi sẽ khởi hành lúc 3 giờ rưỡi sáng để đến địa điểm đã chọn cho cuộc phục kích vào khoảng 4 giờ rưỡi. Một túp lều đã được dựng lên ở đó bằng những mảnh băng để chắn phần nào cơn gió khủng khiếp trước bình minh mang theo cái lạnh xé thịt, cắt như dao, châm chích như roi tẩm độc, xoắn vặn như kìm và thiêu đốt như lửa.

Đúng ba giờ sáng, tôi bị đánh thức. Tôi khoác lên mình tấm da cừu và anh họ của tôi đang đắp tấm da gấu. Sau khi uống hai tách cà phê nóng và hai ly sâm banh hảo hạng, chúng tôi lên đường cùng với một người giữ rừng và hai chú chó của chúng tôi: Plongeon và Pierrot.

Ngay từ khi bước chân ra ngoài, tôi đã thấy lạnh thấu xương. Đó là một trong những đêm mà mặt đất dường như chết vì lạnh. Không khí đóng băng trở nên cứng, đau đớn đến mức có thể cảm nhận được; không một hơi thở nào lay động; đóng băng, bất động, khô héo, giết chết cây cối, thực vật, côn trùng, thậm chí cả những con chim nhỏ rơi từ cành cây xuống đất cứng và cũng cứng lại như đất, dưới cái lạnh thấu xương.

Trăng hạ tuần nghiêng về một bên, nhợt nhạt như lông vũ, dường như chao đảo trong khoảng không bao la, mờ nhạt đến nỗi không thể di chuyển nữa, đứng yên, mắc kẹt, tê liệt bởi sự khắc nghiệt của đất trời, chiếu một thứ ánh sáng khô khan, u buồn lên thế giới, thứ ánh sáng yếu ớt, tàn phai chiếu xuống mỗi tháng, vào cuối chu kỳ hồi sinh.

Karl và tôi bước cạnh nhau, lưng khom xuống, tay trong túi áo, súng trường kẹp dưới cánh tay. Giày của chúng tôi, lót len để có thể đi mà không bị trượt trên băng, không phát ra tiếng động; và tôi nhìn làn khói trắng từ hơi thở của những con chó.

Chúng tôi nhanh chóng đến rìa đầm lầy và bước vào một trong những con đường mòn đầy lau sậy khô len lỏi qua khu rừng thấp như dải ruy băng, để lại tiếng xào xạc nhẹ phía sau; Và tôi cảm thấy mình bị cuốn hút hơn bao giờ hết bởi cảm xúc mạnh mẽ và kỳ lạ mà đầm lầy khơi dậy trong tôi.

Đột nhiên, quanh một khúc quanh trên con đường mòn, tôi nhìn thấy túp lều băng. Tôi bước vào trong, và vì chúng tôi vẫn còn gần một tiếng nữa để đợi những con chim lang thang thức dậy, tôi cuộn mình trong chăn để sưởi ấm.

Nhưng cái lạnh của đầm lầy đóng băng, cái lạnh của những bức tường, cái lạnh từ trên trời rơi xuống chẳng mấy chốc đã thấm vào tôi đến nỗi tôi bắt đầu ho sặc sụa.

Anh họ Karl của tôi lo lắng: “Không sao nếu hôm nay chúng ta không bắn được nhiều, anh không muốn em bị cảm lạnh; chúng ta sẽ nhóm lửa.” Và anh ấy ra lệnh cho người canh gác chặt một ít lau sậy, chất chúng lên giữa túp lều, và khi ngọn lửa đỏ bốc lên dọc theo những bức tường trong suốt như pha lê, chúng bắt đầu tan chảy, nhẹ nhàng, như thể những tảng băng đang đổ mồ hôi. Karl, vẫn ở bên ngoài, gọi tôi: “Đến xem này!” Tôi ra ngoài và đứng đó, chết lặng vì kinh ngạc. Túp lều hình nón của chúng tôi trông giống như một viên kim cương khổng lồ với lõi lửa, đột nhiên nổi lên trên mặt nước đóng băng của đầm lầy. Và bên trong, chúng tôi có thể nhìn thấy hai hình thù kỳ lạ, đó là những con chó của chúng tôi đang sưởi nắng.

Nhưng một tiếng kêu lạ lẫm, một tiếng kêu lạc lõng, một tiếng kêu lang thang, vang vọng trên đầu chúng tôi. Ánh lửa từ lò sưởi đang đánh thức những con chim hoang dã.

Không gì lay động tôi hơn tiếng kêu đầu tiên của sự sống, vô hình, vang vọng trong không khí tối tăm, nhanh đến vậy, xa đến vậy, trước khi ánh sáng đầu tiên của mùa đông xuất hiện trên chân trời. Đối với tôi, vào giờ phút bình minh lạnh giá này, dường như tiếng kêu thoáng qua, được mang theo bởi đôi lông của một con vật, là một tiếng thở dài từ tâm hồn của thế gian!

Karl nói, “Dập lửa đi. Bình minh đang ló dạng.”

Quả thực, bầu trời bắt đầu nhạt dần, và những đàn vịt để lại những vệt dài nhanh chóng biến mất trên bầu trời. Một tia sáng lóe lên xé rách màn đêm; Karl vừa bắn, và hai con chó lao đi.

Cứ từng phút, đôi khi anh ấy và đôi khi tôi nhanh chóng điều chỉnh mục tiêu ngay khi bóng của một đàn chim xuất hiện trên đám lau sậy. Pierrot và Plongeon thở hổn hển vui sướng mang về cho chúng tôi những con thú đẫm máu mà đôi mắt vẫn còn nhìn lại chúng tôi.

Ngày đã ló dạng, một ngày trong xanh, mặt trời đang mọc ở cuối thung lũng, và khi chúng tôi đang định rời đi thì một đôi chim, cổ thẳng và cánh dang rộng, đột nhiên sà xuống trên đầu. Tôi nổ súng. Một con rơi gần ngay chân tôi. Đó là một con vịt mòng két bụng màu bạc. Rồi trên không trung, một giọng nói, giọng của một con chim, cất lên. Đó là một tiếng kêu ngắn, lặp đi lặp lại, xé lòng; và con chim, con chim nhỏ bé còn sống sót, bắt đầu bay vòng quanh bầu trời xanh trên đầu chúng tôi, nhìn chằm chằm vào bạn đời đã chết mà tôi đang cầm trong tay.

Karl quỳ xuống, súng vắt trên vai, mắt rực lửa, nhìn nó, chờ nó đến đủ gần.

“Em đã giết con mái rồi,” Karlnói, “con trống không chịu đi.” Quả thật, nó không chịu đi; nó cứ bay vòng quanh và khóc than. Chưa bao giờ tiếng rên rỉ đau đớn lại xé lòng tôi như tiếng kêu tuyệt vọng, tiếng than khóc thảm thiết của con vật tội nghiệp đang bay lạc giữa không trung.

Đôi khi, nó lại bỏ chạy khi nghe thấy tiếng súng đuổi theo; dường như nó sẵn sàng tiếp tục cuộc hành trình của mình, một mình trên bầu trời. Nhưng không thể quyết định, nó lại quay trở lại tìm bạn đời.

“Cứ để nó ở dưới đất,” Karl nói với tôi, “con trống sẽ đến bất cứ lúc nào.” Quả thật, nó đã đến gần, bất chấp nguy hiểm, điên cuồng vì tình yêu mãnh liệt dành cho bạn đời mà tôi đã giết.

Karl nổ súng; như thể sợi dây giữ con chim đã bị cắt đứt. Tôi thấy một vật đen rơi xuống; tiếng rơi trong đám lau sậy.

Tôi đặt đôi chim đã lạnh ngắt vào cùng một túi đựng thú săn… và tôi rời đi Paris ngày hôm đó.

 

AMOUR
(Dans Le Horla, 1895, pp. 71-84)
Guy de Maupassant

… Je viens de lire dans un fait divers de journal un drame de passion. Il l’a tuée, puis il s’est tué, donc il l’aimait. Qu’importent Il et Elle ? Leur amour seul m’importe ; et il ne m’intéresse point parce qu’il m’attendrit ou parce qu’il m’étonne, ou parce qu’il m’émeut ou parce qu’il me fait songer, mais parce qu’il me rappelle un souvenir de ma jeunesse, un étrange souvenir de chasse où m’est apparu l’Amour comme apparaissaient aux premiers chrétiens des croix au milieu du ciel.
Je suis né avec tous les instincts et les sens de l’homme primitif tempérés par des raisonnements et des émotions de civilisé. J’aime la chasse avec passion ; et la bête saignante, le sang sur les plumes, le sang sur mes mains, me crispent le cœurà le faire défaillir.

Cette année-là, vers la fin de l’automne, les froids arrivèrent brusquement, et je fus appelé par un de mes cousins, Karl de Rauville, pour venir avec lui tuer des canards dans les marais, au lever du jour.

Mon cousin, gaillard de quarante ans, roux, très fort et très barbu, gentilhomme de campagne, demi-brute aimable, d’un caractère gai, doué de cet esprit gaulois qui rend agréable la médiocrité, habitait une sorte de ferme-château dans une vallée large où coulait une rivière. Des bois couvraient les collines de droite et de gauche, vieux bois seigneuriaux où restaient des arbres magnifiques et où l’on trouvait les plus rares gibiers à plume de toute cette partie de la France. On y tuait des aigles quelquefois ; et les oiseaux de passage, ceux qui presque jamais ne viennent en nos pays trop peuplés, s’arrêtaient presque infailliblement dans ces branchages séculaires comme s’ils eussent connu ou reconnu un petit coin de forêt des anciens temps demeuré là pour leur servir d’abri en leur courte étape nocturne.

Dans la vallée, c’étaient de grands herbages arrosés par des rigoles et séparés par des haies ; puis, plus loin, la rivière, canalisée jusque-là, s’épandait en un vaste marais. Ce marais, la plus admirable région de chasse que j’aie jamais vue, était tout le souci de mon cousin qui l’entretenait comme un parc. À travers l’immense peuple de roseaux qui le couvrait, le faisait vivant, bruissant, houleux, on avait tracé d’étroites avenues ou les barques plates, conduites et dirigées avec des perches, passaient, muettes, sur l’eau morte, frôlaient les joncs, faisaient fuir les poissons rapides à travers les herbes et plonger les poules sauvages dont la tête noire et pointue disparaissait brusquement.

J’aime l’eau d’une passion désordonnée : la mer, bien que trop grande, trop remuante, impossible à posséder, les rivières si jolies mais qui passent, qui fuient, qui s’en vont, et les marais surtout où palpite toute l’existence inconnue des bêtes aquatiques. Le marais, c’est un monde entier sur la terre, monde différent, qui a sa vie propre, ses habitants sédentaires, et ses voyageurs de passage, ses voix, ses bruits et son mystère surtout. Rien n’est plus troublant, plus inquiétant, plus effrayant, parfois, qu’un marécage. Pourquoi cette peur qui plane sur ces plaines basses couvertes d’eau ? Sont-ce les vagues rumeurs des roseaux, les étranges feux follets, le silence profond qui les enveloppe dans les nuits calmes, ou bien les brumes bizarres, qui traînent sur les joncs comme des robes de mortes, ou bien encore l’imperceptible clapotement, si léger, si doux, et plus terrifiant parfois que le canon des hommes ou que le tonnerre du ciel, qui fait ressembler les marais à des pays de rêve, à des pays redoutables, cachant un secret inconnaissable et dangereux.

Non. Autre chose s’en dégage, un autre mystère, plus profond, plus grave, flotte dans les brouillards épais, le mystère même de la création peut-être ! Car n’est-ce pas dans l’eau stagnante et fangeuse, dans la lourde humidité des terres mouillées sous la chaleur du soleil, que remua, que vibra, que s’ouvrit au jour le premier germe de vie ?

J’arrivai le soir chez mon cousin. Il gelait à fendre les pierres.
Pendant le dîner, dans la grande salle dont les buffets, les murs, le plafond étaient couverts d’oiseaux empaillés, aux ailes étendues, ou perchés sur des branches accrochées par des clous, éperviers, hérons, hiboux, engoulevents, buses, tiercelets, vautours, faucons, mon cousin, pareil lui-même à un étrange animal des pays froids, vêtu d’une jaquette en peau de phoque, me racontait les dispositions qu’il avait prises pour cette nuit même.

Nous devions partir à trois heures et demie du matin, afin d’arriver vers quatre heures et demie au point choisi pour notre affût. On avait construit à cet endroit une hutte avec des morceaux de glace pour nous abriter un peu contre le vent terrible qui précède le jour, ce vent chargé de froid qui déchire la chair comme des scies, la coupe comme des lames, la pique comme des aiguillons empoisonnés, la tord comme des tenailles, et la brûle comme du feu.

Mon cousin se frottait les mains : « Je n’ai jamais vu une gelée pareille, disait-il, nous avions douze degrés sous zéro à six heures du soir. »

J’allai me jeter sur mon lit aussitôt après le repas, et je m’endormis à la lueur d’une grande flamme flambant dans ma cheminée.
À trois heures sonnantes on me réveilla. J’endossai, à mon tour, une peau de mouton et je trouvai mon cousin Karl couvert d’une fourrure d’ours. Après avoir avalé chacun deux tasses de café brûlant suivies de deux verres de fine champagne, nous partîmes accompagnés d’un garde et de nos chiens : Plongeon et Pierrot.

Dès les premiers pas dehors, je me sentis glacé jusqu’aux os. C’était une de ces nuits où la terre semble morte de froid. L’air gelé devient résistant, palpable tant il fait mal ; aucun souffle ne l’agite ; il est figé, immobile, il mord, traverse, dessèche, tue les arbres, les plantes, les insectes, les petits oiseaux eux-mêmes qui tombent des branches sur le sol dur, et deviennent durs aussi, comme lui, sous l’étreinte du froid.

La lune, à son dernier quartier, toute penchée sur le côté, toute pâle, paraissait défaillante au milieu de l’espace, et si faible qu’elle ne pouvait plus s’en aller, qu’elle restait là-haut, saisie aussi, paralysée par la rigueur du ciel. Elle répandait une lumière sèche et triste sur le monde, cette lueur mourante et blafarde qu’elle nous jette chaque mois, à la fin de sa résurrection.

Nous allions, côte à côte, Karl et moi, le dos courbé, les mains dans nos poches et le fusil sous le bras. Nos chaussures enveloppées de laine afin de pouvoir marcher sans glisser sur la rivière gelée ne faisaient aucun bruit ; et je regardais la fumée blanche que faisait l’haleine de nos chiens.

Nous fûmes bientôt au bord du marais, et nous nous engageâmes dans une des allées de roseaux secs qui s’avançait à travers cette forêt basse.

Nos coudes, frôlant les longues feuilles en rubans, laissaient derrière nous un léger bruit ; et je me sentis saisi, comme je ne l’avais jamais été, par l’émotion puissante et singulière que font naître en moi les marécages. Il était mort, celui-là, mort de froid, puisque nous marchions dessus, au milieu de son peuple de joncs desséchés.

Tout à coup, au détour d’une des allées, j’aperçus la hutte de glace qu’on avait construite pour nous mettre à l’abri. J’y entrai, et comme nous avions encore près d’une heure à attendre le réveil des oiseaux errants, je me roulai dans ma couverture pour essayer de me réchauffer.

Alors, couché sur le dos, je me mis à regarder la lune déformée, qui avait quatre cornes à travers les parois vaguement transparentes de cette maison polaire.

Mais le froid du marais gelé, le froid de ces murailles, le froid tombé du firmament me pénétra bientôt d’une façon si terrible, que je me mis à tousser.

Mon cousin Karl fut pris d’inquiétude : «Tant pis si nous ne tuons pas grand-chose aujourd’hui, dit-il, je ne veux pas que tu t’enrhumes ; nous allons faire du feu. » Et il donna l’ordre au garde de couper des roseaux.
On en fit un tas au milieu de notre hutte défoncée au sommet pour laisser échapper la fumée ; et lorsque la flamme rouge monta le long des cloisons claires de cristal, elles se mirent à fondre, doucement, à peine, comme si ces pierres de glace avaient sué. Karl, resté dehors, me cria : « Viens donc voir ! » Je sortis et je restai éperdu d’étonnement. Notre cabane, en forme de cône, avait l’air d’un monstrueux diamant au cœur de feu poussé soudain sur l’eau gelée du marais. Et dedans, on voyait deux formes fantastiques, celles de nos chiens qui se chauffaient.

Mais un cri bizarre, un cri perdu, un cri errant, passa sur nos têtes. La lueur de notre foyer réveillait les oiseaux sauvages.
Rien ne m’émeut comme cette première clameur de vie qu’on ne voit point et qui court dans l’air sombre, si vite, si loin, avant qu’apparaisse à l’horizon la première clarté des jours d’hiver. Il me semble à cette heure glaciale de l’aube, que ce cri fuyant emporté par les plumes d’une bête est un soupir de l’âme du monde !

Karl disait : « Éteignez le feu. Voici l’aurore. »

Le ciel en effet commençait à pâlir, et les bandes de canards traînaient de longues taches rapides, vite effacées, sur le firmament.
Une lueur éclata dans la nuit, Karl venait de tirer et les deux chiens s’élancèrent.
Alors, de minute en minute, tantôt lui et tantôt moi nous ajustions vivement dès qu’apparaissait au-dessus des roseaux l’ombre d’une tribu volante. Et Pierrot et Plongeon, essoufflés et joyeux, nous rapportaient des bêtes sanglantes dont œil quelquefois nous regardait encore.

Le jour s’était levé, un jour clair et bleu ; le soleil apparaissait au fond de la vallée et nous songions à repartir, quand deux oiseaux, le col droit et les ailes tendues, glissèrent brusquement sur nos têtes. Je tirai. Un d’eux tomba presque à mes pieds. C’était une sarcelle au ventre d’argent. Alors, dans l’espace au-dessus de moi, une voix, une voix d’oiseau cria. Ce fut une plainte courte, répétée, déchirante ; et la bête, la petite bête épargnée se mit à tourner dans le bleu du ciel au-dessus de nous en regardant sa compagne morte que je tenais entre mes mains.

Karl, à genoux, le fusil à l’épaule, ÷il ardent, la guettait, attendant qu’elle fût assez proche.
« Tu as tué la femelle, dit-il, le mâle ne s’en ira pas. »
Certes, il ne s’en allait point ; il tournoyait toujours, et pleurait autour de nous. Jamais gémissement de souffrance ne me déchira le c÷ur comme l’appel désolé comme le reproche lamentable de ce pauvre animal perdu dans l’espace.

Parfois, il s’enfuyait sous la menace du fusil qui suivait son vol ; il semblait prêt à continuer sa route, tout seul à travers le ciel. Mais ne s’y pouvant décider il revenait bientôt pour chercher sa femelle.
« Laisse-la par terre, me dit Karl, il approchera tout à l’heure. »
Il approchait, en effet, insouciant du danger, affolé par son amour de bête pour l’autre bête que j’avais tuée.
Karl tira ; ce fut comme si on avait coupé la corde qui tenait suspendu l’oiseau. Je vis une chose noire qui tombait ; j’entendis dans les roseaux le bruit d’une chute. Et Pierrot me le rapport.

Je les mis, froids déjà, dans le même carnier… et je repartis, ce jour-là, pour Paris.

 

 

24 thoughts on “Tình yêu lấp đầy những vết nứt quạnh hiu – Tống Mai

    1. “ Ngày đã ló dạng, một ngày trong xanh, mặt trời đang mọc ở cuối thung lũng, và khi chúng tôi đang định rời đi thì một đôi chim, cổ thẳng và cánh dang rộng, đột nhiên sà xuống trên đầu. Tôi nổ súng. Một con rơi gần ngay chân tôi. Đó là một con vịt mòng két bụng màu bạc. Rồi trên không trung, một giọng nói, giọng của một con chim, cất lên. Đó là một tiếng kêu ngắn, lặp đi lặp lại, xé lòng; và con chim, con chim nhỏ bé còn sống sót, bắt đầu bay vòng quanh bầu trời xanh trên đầu chúng tôi, nhìn chằm chằm vào bạn đời đã chết mà tôi đang cầm trong tay.

      Karl quỳ xuống, súng vắt trên vai, mắt rực lửa, nhìn nó, chờ nó đến đủ gần.

      “Em đã giết con mái rồi,” Karl nói, “con trống không chịu đi.” Quả thật, nó không chịu đi; nó cứ bay vòng quanh và khóc than. Chưa bao giờ tiếng rên rỉ đau đớn lại xé lòng tôi như tiếng kêu tuyệt vọng, tiếng than khóc thảm thiết của con vật tội nghiệp đang bay lạc giữa không trung.”

  1. Tks Mai đã gởi nhung cảm xúc về tình yêu trong ngày TY.

    L’amour comble les lezardes de la solitude, Chao ơi, sao mà thương chữ solitude, hay vì đúng tâm trạng làm mình nhớ đến Bên Đời Hiu Quạnh của anh Sơn.

    Melancolie: Hôm nay trời nhẹ lên cao, tôi buồn khong hiểu vì sao tôi buồn!

    Solitude: Cảm nhận được rất sâu tâm trạng mình đang ở trong đó.

    L’amour ces’t quoi,
    La vie ces’t quoi: Làm mình tâm trạng của con chim trong Amour dường như đã sẵn sàng tiếp tục cuộc hành trình một mình nhưng không thể quyết định được nên quay lại tìm người bạn đời, thế là lao xuống để được chết bên nhau.

    Một cuộc tình thật đẹp. Thế mà con người thì phải chịu sự thống khổ của mát, vẫn phải tiếp tục tồn tại vì không thể nào khác hơn vì bao nhiêu trách nhiệm ràng buộc khác.

  2. Không khỏi xúc động mỗi lần đọc lại truyện này.
    Tình yêu của đôi sinh vật tuy nhỏ bé nhưng quá lớn làm cho ngươi thợ săn rất ân hận sau khi nổ súng, với sự quay quắt và những tiếng kêu ai oán của con chim còn lại, ông ta đã quyết định bắn nó để mong kết nối lại tình yêu cho cả hai, một tình yêu “bất tử” ở bên kia thế giới.
    Kết thúc họ đã trở về Paris như là một sự chuộc lỗi.
    Cám ơn Mai đã cho đăng lại bài này ngày hôm nay thật ý nhị.
    Joyeux Saint Valentin.

    1. Un coup de grâce!
      Đúng là con chim còn lại phải chết đi để được gần bạn của mình bên kia thế giới.
      Nhưng Mai nghĩ họ bắn con chim còn lại không phải vì muốn “đoàn tụ” cặp chim với nhau mà vì sự khát máu muốn giết được càng nhiều càng thỏa tính. Họ đi săn để hạ được càng nhiều vật càng tốt….”Nếu chúng ta không bắn được nhiều….” là câu người anh họ nói với em họ của mình.
      Họ không nhặt xác của con chim họ bắn đầu tiên chỉ vì muốn dụ con kia đến gần bạn mình để bắn. That’s pure cruelty, not act of mercy.

    2. Em cũng có cùng ý nghĩ như thế, đó là một cú bắn nhân đạo để giúp hai con chim đoàn tụ với nhau, nhưng sau khi đọc những gì chị Mai trả lời thì nghĩ là chị nói đúng. Đọc kỹ câu truyện thi hiểu ra người bắn con chim thứ hai là khát máu.

  3. Le soir, au coin du feu, j’ai pensé bien des fois,
    À la mort d’un oiseau, quelque part, dans les bois,
    Pendant les tristes jours de l’hiver monotone
    Les pauvres nids déserts, les nids qu’on abandonne,
    Se balancent au vent sur le ciel gris de fer.
    Oh ! comme les oiseaux doivent mourir l’hiver !
    Pourtant lorsque viendra le temps des violettes,
    Nous ne trouverons pas leurs délicats squelettes
    Dans le gazon d’avril où nous irons courir.
    Est-ce que les oiseaux se cachent pour mourir ?

    (La mort des oiseaux — François Coppée)

    Vào buổi tối, bên bếp lửa, tôi thường nghĩ,
    Về cái chết của một con chim, ở đâu đó trong rừng,
    Trong những ngày đông buồn tẻ,
    Những tổ chim tội nghiệp bị bỏ rơi,
    Lắc lư trong gió trên nền trời xám xịt.

    Ôi! Chim chóc phải chết vào mùa đông!

    Nhưng khi mùa hoa violet đến,
    Ta sẽ không tìm thấy bộ xương mỏng manh của chúng
    Trên bãi cỏ tháng Tư nơi chúng ta từng chạy nhảy vui đùa.

    Phải chăng chim chóc trốn để chết?

  4. Bài viết nào của Mai cũng thắt ruột.
    Cậu truyện này càng thấy sinh vật nào cũng có linh hồn, cũng biết đau. Con người cần phải có từ bi và trí tuệ, từ bi để biết thương, trí tuệ để biết phải trái mà sống cho phải đạo.

      1. Mai nghĩ đến câu Diệu gởi:
        “Hãy là Mai như những Sớm Mai, những bông hoa ngày Tết. Mai ở lại và sự tàn úa ra đi vì những sớm mai thức dậy người ta bắt đầu một ngày mới và nói với nhau chào buổi sớm mai.”
        (Trịnh Công Sơn)

        1. Không hiểu sao anh Sơn hay nói đến hoa Mai. Diệu nhớ bài gỉ đó cũng có câu:

          Hòn đá lăn trên đồi
          Hòn đá rớt xuống cành Mai
          Rụng cánh Hoa Mai gầy
          Chim chóc hót tiếng qua đởi

  5. Mồng một Tết năm Ngựa Hồng, chúc Anh tôi chúc Chị tôi một năm nhiều sức khỏe và an bình

  6. Xuân đã về, các cội thông đã ra chồi óng biếc
    Và bên mé rừng đã nở rộ hoa Mai:

    Con đi đâu?
    Thích Nhất Hạnh

    Có khi sương mù đã về giăng mắc chốn cô thôn
    Mà trên bước phiêu linh con vẫn còn miệt mài nơi viễn xứ
    Thầy đã gọi tên con trong từng hơi thở
    Tin rằng dù con đang lạc loài đi về bên nớ
    Con cũng sẽ cuối cùng tìm ra được lối trở về bên ni
    Có khi Thầy xuất hiện ngay giữa đường con đi
    Nhưng mắt con vẫn nhìn Thầy như một người xa lạ
    Không thấy được mối túc duyên
    Không nhớ được lời nguyền xưa vàng đá
    Con đã không nhận ra được thầy
    Vì tâm con còn vướng bận những hình bóng xa xôi

    Thấy con, thầy đã luôn luôn đưa tay lên làm dấu hiệu
    Dù nơi gặp con là ở miền Kinh Bắc, vùng Bến Nghé, hay cửa biển Thuận An
    Có khi con là trái trăng vàng ửng chín lơ lửng treo trên đỉnh Kim Sơn
    Hay là con chim con chiêm chiếp kêu đêm Đông bay qua rừng Đại Lão
    Rất nhiều khi thầy thấy được con
    Nhưng con không thấy được thầy,
    Dù trên nẻo con đi sương chiều đã thấm vào ướt áo
    Vậy mà cuối cùng con cũng đã trở về

    Con trở về ngồi dưới chân thầy, nơi chốn non xưa.
    Để rồi tiếng chim kêu tiếng vượn hú lại cùng hòa với tiếng công phu sớm trưa
    Con đã về bên thầy, thật sự muốn chấm dứt cuộc đời lãng tử.

    Sáng nay chim chóc ca mừng vừng ô lên rạng rỡ
    Con có hay trên bầu xanh mây trắng vẫn còn bay?
    Con ở đâu?
    Cảnh núi xưa còn đó, nơi hiện pháp chốn này
    Dù đợt sóng bạc đầu vẫn còn đang muốn vươn mình đi về phương lạ
    Nhìn lại đi, thầy đang ở trong con, và trong từng nụ hoa, chiếc lá
    Nếu gọi tên thầy, con sẽ tự khắc thấy thầy ngay.

    Con đi đâu? Cây mộc già đã nở hoa, thơm nức sáng nay
    Thầy trò ta thật chưa bao giờ từng cách biệt
    Xuân đã về, các cội thông đã ra chồi óng biếc
    Và bên mé rừng đã nở rộ hoa Mai.

  7. “Hiện hữu không kêu gọi tình thương.
    hiện hữu không cần ai phải thương ai
    nhưng em phải là em, là đóa hoa, là bình minh hát ca, không đắn đo suy tính
    xin ghi vào đây một Tân Ước nữa của tất cả chúng ta
    và xin vẫn nghe lời tôi như nghe suối reo, như nhìn trăng sáng

    em về, đưa mẹ về cho tôi thăm
    cho tôi hát em nghe, để tóc em sẽ dài xanh như tóc mẹ.”
    (TNH)

Leave a Reply