Tibet và Nepal – Om Mani Padme Hum

Hình ảnh của Trần Đại Lộc Tibet NepalSeptember 2014   (Oct 1, 2014)

Cám ơn anh TD Lộc những hình ảnh anh chụp trong chuyến đi Tibet và Nepal tháng trước của anh. Mai thật sự thán phục những ai đã làm được cuộc hành trình gian nan đến Tibet vì biết có người bỏ cuộc nửa đường vì quá cực nhọc hay vì sức khỏe.

Mai đặc biệt cám ơn hình câu chú Om Mani Padme Hum và những prayer flags tung bay trong gió. Đứng ngòai nhìn vào hình đã lặng người xúc động, thì khi được đứng trong khung cảnh đó thì ta sẽ như thế nào.

Mai mạn phép chuyển hình cho bạn bè xem.

… và kèm bài hát Chiếc Trống Của Chị.

TốngMai – Oct 1, 2014

 

A Tỷ Cổ – Chiếc trống của chị – Chu Triết Cầm

youtube.com/watch?v=XJawtSNlDXM

Chị tôi từ nhỏ đã chẳng nói
Trong trí nhớ của tôi, năm ấy chị rời nhà
Từ đó về sau mỗi ngày, mỗi ngày, mỗi ngày tôi đều nhớ
Chị ơi

Luôn nhớ hình dáng chị vẫn như hôm nào
Tôi đột nhiên hiểu được chị
Từ đó về sau mỗi ngày, mỗi ngày, mỗi ngày tôi đều tìm
Chị ơi

Trên đồi Mani, một lão nhân đang ngồi
Niệm mãi một câu
Om Mani Padme Hum (1)
Om Mani Padme Hum
Om Mani Padme Hum
Om Mani Padme Hum
Om Mani Padme Hum

Chị tôi từ nhỏ đã chẳng nói
Trong trí nhớ của tôi, năm ấy chị rời nhà
Từ đó về sau mỗi ngày, mỗi ngày, mỗi ngày tôi đều nhớ
Chị ơi

Luôn nhớ hình dáng chị vẫn như hôm nào
Tôi đột nhiên hiểu được chị
Từ đó về sau mỗi ngày, mỗi ngày, mỗi ngày tôi đều tìm
Chị ơi

Từ chân trời truyền đến trận trận, trận trận tiếng trống
Đó là lời chị nói với tôi
Om Mani Padme Hum
Om Mani Padme Hum
Om Mani Padme Hum

Giải nghĩa lời bài hát

(1) Om Mani Padme Hum là một câu thần chú tiếng Phạn, được xem là thần chú cầu Quán Thế Âm Bồ Tát (Avalokiteshvara) và là thần chú quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Nó còn được mệnh danh là “Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn” tức là “Chân ngôn sáng rõ bao gồm sáu chữ”.

Om : Quy mệnh Mani : Viên ngọc như ý Padme : Bên trong hoa sen Hum : Tự ngã thành tựu

Có thể dịch câu này là Om, ngọc quý trong hoa sen, Hum. (Om, to the Jewel in the Lotus, hum). Theo âm Hán-Việt, câu này được đọc là Úm ma ni bát ni hồng hoặc Án ma ni bát mê hồng.

Thông thường ta không giảng nghĩa thần chú, nhưng ở đây cần nói thêm là: “ngọc quý” biểu hiện cho Bồ-đề tâm (bodhicitta), “hoa sen” chỉ tâm thức con người, ý nghĩa là tâm Bồ-đề nở trong lòng người. Tuy nhiên thần chú có những âm thanh riêng biệt và những tác dụng bí ẩn theo cách trình bày của Kim cương thừa. Đối với Phật giáo Tây tạng thì Om Mani Padme Hum chính là lòng từ bi rộng lớn, muốn đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm tiết của thần chú này cũng được xem là tương ưng với sáu cõi tái sinh của dục giới.

Chiếc trống của chị, một thiếu nữ chết đi được Lạt Ma siêu độ rồi da được dùng chế thành trống. (Người Tây Tạng chết thường đều thiên táng, không hỏa táng hoặc thổ táng, lợi dụng thân thể người chết chế tạo thành nhạc khí, xem con người không bị giới hạn bởi thân thể) . Bài hát này nói về người em chờ người chị trở lại (luân hồi), nghe tiếng trống từ trên cao truyền xuống thì nghe như tiếng người chị đang nói xen lẫn với Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn. Trong chân ngôn có huyền cơ bí ẩn, tưởng niệm sâu xa cùng chúc phúc cho thế nhân.

Nguồn: Kaori0kawa

TDLoc 2014 - Tibet - Lhasa - Potala-Palace

Tibet – Lhasa – Potala Palace

TDLoc 2014 - Tibet - Lhasa - Potala Palace2

Lhasa – Lhasa – Potala Palace – Night falling

TDLoc 2014 -- Tibet - Om Mani Padme Hum

Tibet – Om Mani Padme Hum

TDLoc 2014 - Tibet  - Lhasa - SeraKloster - Om Mani Padme Hum

Tibet – Om Mani Padme Hum

TDLoc 2014 - Tibet - Yamdrok-Co-See - Prayer flags

Tibet – Yamdrock-Co-See – Prayer Flags

TDLoc - Lhasa_SeraKloster

Tibet – Om Mani Padme Hum

TDLoc  2014 - Tibet - Yamdrok-Co-See. Prayer flags

TDLoc 2014 - Tibet - Yamdrok-Co_See - Prayer flags

TDLoc 2014 - Kathmandu_Bouddhanath

Nepal – Kathmandu – Bouddhanath 

TDLoc 2014 - Kathmandu_Patan

Nepal – Kathmandu – Patan

One thought on “Tibet và Nepal – Om Mani Padme Hum

  1. From: TongMai
    Oct 3, 2014

    Gởi anh Lộc, chuyến đi Tây Tạng của anh làm ước mong được đến đó của một người quanh quẩn bên người đó suốt tuần qua.

    Cám ơn anh đã correct địa danh Mai viết sai trong những hình ảnh về Tibet .
    Mai

    GIÃ TỪ TÂY TẠNG
    Nguyễn Tường Bách

    Rồi cũng có ngày tôi rời Lhasa, lên máy bay về lại Tứ Xuyên. Tôi nhớ G.Tucci, nhà Phật học và Tây Tạng học người YÙ. Ông viết: “Từ giã Lhasa ra đi không giống như từ giã một thành phố nào đó. Dễ trở lại một nơi nào bất kỳ, nhưng Lhasa là không thể đạt tới, hầu như nó nằm ngoài thế giới này. Từ đó ra đi cũng như tan một giấc mơ mà không biết rằng nó có trở lại không”.

    Lhasa ngày nay còn mong manh hơn thế vì nó đang chết dần chết mòn. Những bước chân rầm rập của lính tráng đang chôn vùi một nền văn minh độc đáo. Và không phải chỉ Lhasa thôi, Shigatse, Gyantse cũng đang thay đổi, những đô thị khác mà tôi chưa tới được hẳn cũng dần dần mất đi gia tài văn hóa của mình. Toàn cả nước Tây Tạng đang từng ngày đáng mất quá khứ của mình, đang trở thành một “khu tự trị” vô danh.

    Ngắm nhìn điện Potala lần cuối, tôi nhớ lại một lời tiên tri. Lời đó nói rằng vị Đạt-lai lạt-ma thứ 14 hiện nay là vị cuối cùng, sẽ không còn vị tái sinh nữa. Đạt-lai là rường cột tinh thần của dân Tây Tạng mà nếu vị hiện nay đã trên 65, không còn vị nào tái sinh nữa thì số phận Tây Tạng coi như an bài. Mà cũng đúng thay, làm sao có ai lật ngược được tình thế của dân tộc Tây Tạng.

    Ngày nay Trung Quốc đang ngự trị Tây Tạng, họ ra sức xây dựng miền cao nguyên lạnh lẽo này để dễ đồng hóa. Công bằng mà nói, người Trung Quốc xây đường sá rất giỏi. Tại Trung Quốc, những nơi hẻo lánh và hầu như chỉ có khách Phật tử hành hương như Ngũ Đài sơn, Cửu Hoa sơn đều được xây dựng cầu đường hết sức nghiêm túc. Tôi tới đảnh lễ được những nơi đó là cũng nhờ họ và không quên, xây đường đắp cầu cũng là một công đức lớn, theo quan điểm đạo Phật. Tại Tây Tạng, Trung Quốc xây dựng nhiều công trình hạ tầng như đường xá, bệnh viện, trường học…, đó là điều tôi không thể không nhắc tới.

    Điều khách quan hiện nay là Tây Tạng đã đi qua một hướng mới, người dân không thể trở lại đời sống cũ. Tôi từng thấy tu sĩ Tây Tạng mang cả điện thoại di động thì làm sao quay lại bánh xe lịch sử, nếu có ai muốn. Tôi nghĩ rằng nếu Đạt-lai có trở lại Tây Tạng thì ông cũng không hề muốn dân mình sống một cuộc sống lạc hậu. Và nếu ông trở về thì liệu ông và những người Tây Tạng theo ông có đủ trình độ chính trị và kinh tế để đưa một dân tộc đi lên?

    Tôi không muốn lạc lối vào những giả định vô bổ và cũng chẳng có “giải pháp” nào cho dân Tây Tạng. Tâm tư của tôi có lẽ cũng giống như những người đã đi Tây Tạng, đó là tiếc thương một nền văn minh thật sự độc đáo đang suy tàn. Hơn nữa đối với tôi, đó không phải là một nền văn minh bất kỳ mà nó là kim cương thừa Phật giáo, nó là bước phát triển tiếp của đạo Phật, sau tiểu thừa Ấn Độ và đại thừa Trung Quốc. Và nếu đại thừa Trung Quốc thu liễm trong mình cả tiểu thừa Ấn Độ thì kim cương thừa Tây Tạng dung chứa cả tiểu thừa lẫn đại thừa. Phật Giáo Tây Tạng nói có lý rằng, tiểu thừa, đại thừa hay kim cương thừa đều là từng bước phát triển cho mỗi cá thể. Phật giáo Tây Tạng là hiện thân đích thực của Kinh Pháp Hoa mà Phật thuyết tại đỉnh Linh Thứu, tất cả các “thừa” đều là phương tiện, là “lấy lá giả vàng” để dẫn độ chúng sinh.

    Vì thế mà nền văn minh Tây Tạng chết đi thì đối với tôi là Phật giáo đang suy tàn trên toàn thế giới. Tại Ấn Độ như đã nói, Phật giáo đã diệt vong từ thế kỷ thứ 11, 12. Tại Trung Quốc thời hoàng kim của Thiền Tông cũng bùng lên và tắt lụi cách đây đã nhiều thế kỷ. Và tại Tây Tạng, có lẽ tôi đồng ý với Sangharakshita, ông cho rằng đạo Phật sẽ diệt vong trong vài thế hệ nữa.

    Nhưng, đức Thế Tôn cũng chẳng đã nói, giáo pháp của Ngài cũng sẽ diệt vong như mọi chuyện trên đời. Cái gì có sinh, cái đó có diệt, đó là qui luật. Còn cái vô sinh, cái miên viễn mà trên cao nguyên này mà có lẽ tôi đã nếm chút mùi vị thì đâu cần còn đạo Phật mới có nó. Nó đâu cần tên gọi, ta có gọi nó là Pháp thân, Phật tính hay Thượng đế, Đại ngã hay bất cứ từ gì khác cũng được.

    Đạo Phật có thể diệt vong nhưng triết lý nhận thức và hành động của nó vẫn tồn tại, có thể dưới một tên gọi khác, nó “được khám phá lại một cách mới mẻ”. Nhận thức luận của nó vẫn tồn tại vì triết lý Tính Không của nó là ưu việt để nói về cái miên viễn đó, không có nhận thức nào hơn. Triết lý hành động của nó cũng còn tồn tại vì Bồ-tát đạo của Phật giáo là con đường không thể không đi cho những ai có lương tâm. Vì thế nếu trong tương lai xa, nếu Phật giáo có diệt vong thực, ta sẽ không ngạc nhiên nếu triết lý nhận thức và hành động đó vẫn còn lưu truyền, dù người đi trình bày cho nó không hề biết mình là Phật tử, không hề biết có một nhân vật lịch sử tên gọi là Thích-ca mâu-ni.

    Ngày đó, người giảng pháp Phật không hề mặc áo tu sĩ mà có thể là một nhà vật lý học hay sinh vật học. Ngày đó người ta sẽ nói về “sắc” và minh họa nó bằng những hạt cơ bản trong ngành vật lý hay bằng nhiễm sắc thể và Genom trong ngành sinh vật. Cũng trong những ngày đó người ta sẽ thấy “không” một cách gần gủi cụ thể như người Tây Tạng thấy Pháp thân và cũng có thể họ sẽ nói “sắc chính là không, không chính là sắc”

    Lời kinh của Đức Thích-ca đã làm tôi bớt băn khoăn với tương lai đạo Phật và Tây Tạng. Đó phải là lý do mà Di-lặc có cái nhìn bí ẩn và hóm hỉnh về những gì xảy ra dưới chân Ngài. Và tôi nhớ lại, tại Bonn, Đạt-lai thứ 14 cũng cho thấy một đầu óc hài hước tinh tế. Tất cả các vị đạo sư xưa nay đều nhìn cuộc đời với cặp mắt xanh biếc của Di-lặc, bí ẩn và hóm hỉnh và hầu như nói, những gì ta đang có rồi cũng sẽ mất nhưng những gì quí nhất thì vô thủy vô chung không bao giờ rời ta.

    Máy bay lướt về hướng đông, sau lưng tôi là Lhasa, là Ngân sơn, là Yarlung Tsangpo, ngày càng xa. Tôi đang rời xa man-đa-la Ngân sơn mà tôi chưa được tới, đang xa man-đa-la Kumbum mà tôi đã từng lên tận đỉnh Pháp thân. Có hề gì, ở đâu cũng có “nó” nếu ta biết nhận thức, đó là bài học tôi mang về từ Tây Tạng.

    Trước mặt tôi là Thành Đô của tỉnh Tứ Xuyên. Tại nơi đó có một đỉnh núi mà tôi đã tới chiêm bái, đó là Nga Mi sơn, trú xứ của bồ-tát Phổ Hiền. Tôi bất giác cảm tạ hành nguyện bao la của Phổ Hiền, sẵn sàng cho bất cứ ai thực hiện nguyện ước của mình. Có thể nhờ Phổ Hiền mà tôi đã đi được Tây Tạng.

Leave a Reply