Nhớ Má – Đặng Ngọc Thanh Hải

Dec 21, 2014 (TM)

NHỚ MÁ

Đặng Ngọc Thanh Hải

Thời gian chị em tôi được sống bên Má không nhiều. Khi tôi được 2-3 tuổi thì Má theo Ba vào Phan Rang. Trước năm 1955, khi Má quay về sống ở căn nhà 105 Gia Long, thỉnh thoảng Má lại vắng nhà đến chiều mới về. Sau này khi đọc cuốn sách của một người bạn với ba má tôi viết về thời kỳ kháng chiến, chúng tôi mới biết Má liên lạc với những người hoạt động ngầm này để tìm tin tức các bác, cô Sáu và chú D. Có lẽ lúc đó Mạ và bác Ấm gái có chồng đi kháng chiến nên không thể liên lạc trực tiếp các đầu mối này sợ lộ nên Má được gia đình giao cho công việc nguy hiểm này chăng? Sau 1955 Má cũng chỉ ở với Ba và anh chị em chúng tôi chừng 3-4 năm rồi vào sống với Chị ở số 10 Cường Để để chăm sóc Chị và cháu Huy mới mấy tháng tuổi khi Chị quấn khăn tang chồng sau ngày anh B. tử trận. Năm 1966 phong trào đấu tranh ở các tỉnh miền Trung bị đàn áp mạnh, Chị theo anh Đ. lên Bảo Lộc, Má lại ra ở với chúng tôi ở căn nhà cũ (lúc này đã đổi thành số 101B Phan Bội Châu), nhưng cũng chỉ được 2 năm, đến sau biến cố Mậu Thân-1968 Má vào Sài gòn sống cùng gia đình chị Khánh.

Tuy không được ở bên Má nhiều, nhưng có lẽ tôi là đứa làm khổ Má nhiều nhất, chắc là nhiều hơn cả các anh, chị con ruột Má. Và những kỷ niệm những ngày tháng hiếm hoi được gần Má vẫn nằm im trong ký ức tôi chờ dịp lại bùng lên chảy tràn nỗi nhớ.

1. TÉ CÂY TRONG VƯỜN NHÀ CHỊ
Thời gian Má ở với Chị tại số 10 Cường Để, vào thứ Bảy, Chủ nhật, chúng tôi thường kéo vào nhà Chị để được hưởng không khí trong lành của khu nhà vườn mát mẻ, vừa để có không gian rộng mở tha hồ trèo cây, hái quả, bắn chim hay soi ve non. Và một trong những lần đó tôi đã làm Má suýt đứng tim vì trò nghịch ngợm của mình. Trong khi trèo cây hái ổi, tôi bổng nỗi hứng muốn làm Tarzan-Người-Hùng-Rừng-Xanh như trong bộ phim mới được xem tuần trước. Thế là tôi leo ra một nhánh ổi, hai tay dang ra, bám vào nhánh cây và lộn ngược một vòng. Nào ngờ, nhánh ổi dòn, không chịu nỗi sức nặng của tôi, gảy đứt ngang và tôi cắm đầu xuống đất, trúng phải mép viên gạch dựng nghiêng để làm khuôn viên cho bồn hoa bên dưới. Khi các chị tôi la lên, Má từ trong nhà chạy ra, thấy đầu tôi máu tuôn xối xả, Má ôm tôi vào lòng, vừa khóc vừa dỗ dành “Hải ơi, làm răng mà khổ ri trời. Ráng lên, con!”. Lúc đó tôi đã lơ mơ, vừa đau, vừa sợ, vừa muốn xỉu vì mất máu khá nhiều, chỉ biết nằm im re trong lòng Má. Má và các chị đưa tôi vào nhà cuống quýt cầm máu cho tôi. Không hiểu lúc đó Má xin đâu được một nắm thuốc lá cẩm lệ, rịt vào chổ vết thương rồi dùng băng ga, băng kín lại. Hình như tôi đã nôn ói cả mật xanh mật vàng lên người Má trước khi nằm mê man suốt cả buổi chiều hôm ấy. Gần nữa đêm tôi tỉnh dậy thấy Má và Chị vẫn ngồi bên cạnh tôi. Má bảo chị xuống múc cháo rồi ngồi dỗ tôi ăn từng muỗng một. Tôi cố nuốt, nhưng cũng chỉ ăn được nữa chén rồi lại nằm mê man.
Hôm sau, khi anh Hồ, lúc ấy là sinh viên y khoa nội trú, đưa tôi vào bệnh viện, ông bác sĩ vừa rữa vết thương vừa nói vui với anh Hồ: “Răng cậu là sinh viên y khoa, sắp ra trường mà lại rịt vết thương bằng thuốc lá rứa nì?”. Anh Hồ bị mắng oan, chỉ cười trừ. Nhưng tôi thì tôi biết rằng, nếu Má không kịp rịt vết thương bằng thuốc lá để cầm máu thì chắc tôi đã không còn sống đến bây giờ. Tôi đã phải khâu đến 8-9 mũi và vết thương dài cũng đến 4-5 phân. Sau này, tôi nghe các chị kể lại, hôm đó thấy đầu tôi lênh láng máu, Má cũng tái xanh mặt mày và muốn xỉu. Nhưng phần vì thương con, phần vì lúc đó chỉ có mỗi Má là người lớn trong nhà, nên Má phải cố vượt qua để tìm cách chửa trị cho tôi. Khi lớn lên, mỗi lần sờ lên vết sẹo trên đầu mình, tôi lại nhớ lần té cây suýt chết đó, và lòng lại rưng rưng nhớ Má.

2. MẬU THÂN – 1968
Sau khi Chị chuyển lên Bảo Lộc, Má từ giả căn nhà 10 Cường Để ra sống với Ba và anh chị em tôi ở nhá 101B Phan Bội Châu. Những ngày tôi thấy Má vui nhất là những ngày chuẩn bị đám cưới chị Khánh. Má đi lên, đi xuống nhắc nhở chúng tôi lau sạch sẽ khu nhà thờ, đánh bóng mấy bộ lư đèn, chuẩn bị bàn thờ … Tôi và em Thắng được phân công đánh bóng sàn gỗ và cầu thang căn gác thờ. Hai anh em hì hục lau sạch, bôi sáp, bôi “luyn” cho thật bóng. Gần ngày cưới, Má kiểm tra hài lòng với những gì anh em tôi làm được. Đám cưới chị thật vui, anh Hải, chồng chị Khánh, sĩ quan Hải quân, nhưng cũng là dân ‘văn nghệ’ nên mấy ngày ‘ở rễ’ anh chị em chúng tôi thường tập trung gian giữa khu nhà thờ, đàn ca hát xướng. Má vui vì thấy chúng tôi ‘hợp rơ’ với anh rễ. Sau đám cưới, anh chị dẫn lũ nhỏ chúng tôi đi phố, sắm cho mỗi đứa một bộ quần áo mới, đưa chúng tôi xuống thẳng nhà bác Nghi đo, may ngay. Chỉ mấy ngày sau là chúng tôi đã có bộ đồ mới và đó là lần đầu tiên chúng tôi có đồ mới để diện mà không phải chờ đến dịp khai giảng năm học hay Tết nguyên đán. Dạo đó, bọn con trai chúng tôi chỉ được sắm quần ka-ki xanh để vừa mặc Tết, vừa mặc đi học. Nay được bộ đồ mới bằng vải “pô-li-e-xờ-te” có pha ‘ny-lông’ ủi xong là ly thẳng tắp, tôi hí ha hí hửng mặc ngay đến lớp khoe với chúng bạn. Cuối năm 1967 đầu năm 1968 chiến sự khá căng thẳng, tôi tối đèn hỏa châu thường được bắn lên không suốt đêm. Thỉnh thoảng lại có những viên trái sáng ấy đi lạc lên thành phố, rớt xuống nhà ai đó và người nhặt được có một tấm dù đủ lớn có thể may được áo khoác nhẹ và với nhiều người đó là một sự may mắn. Nhưng với tôi đó lại là một sự xui rũi. Đêm hôm đó, sau khi thay đồ ra, tôi quyết định giặt ngay cái quần mới, phơi ngoài cửa ngỏ cho có gió, kịp khô để sáng mai còn “diện” đi học. Nào ngờ nữa đêm hôm đó một trái sáng rơi đúng vào nơi tôi phơi quần, lửa tung tóe làm cháy lổ chổ cái quần mới của tôi. Sáng ra, nhìn cái quần lủng lổ chổ, tôi òa khóc, không ai dỗ được. Má kéo tôi vào lòng, lấy tay quệt nước mắt cho tôi rồi bảo: “Thôi, nín đi con. Để Má bảo chị Khánh mua cho con cái quần khác.” Chị chưa kịp mua gửi ra cho tôi cái quần khác thì biến cố Mậu Thân đau thương xảy ra, nhà tôi bị bắn sập gian nhà thờ phía sau, nhưng căn nhà 5 gian 2 chái phía trước chỉ bị sụt ngói, lủng mái nên nhìn từ bên ngoài không thấy hư hại gì. Sau khi tình hình đã ổn định, một buổi sáng, chúng tôi được thông báo là Tổng thống sẽ đi kinh lý qua con đường Phan Bội Châu của chúng tôi. Khoảng 9 giờ sáng, một đoàn bốn năm người mặc thường phục, chung quanh là những tốp lính thủy quân lục chiến bảo vệ, tản bộ dọc theo con đường. Chúng tôi nhìn ra người đi giũa, thấp, tóc bạc chính là Tổng thống Thiệu. Ngang qua nhà tôi, ông đi chậm lại, nhìn ngang ngữa rồi ‘phán’ một câu, giọng Nam “Nhà này ‘hổng’sao!”. Má lắc đầu nói vói theo đoàn ‘kinh lý’ấy: “ ‘Hổng sao’ sao được mà hổng sao, phía sau sập nát hết rồi nè!”. Ai ngờ, mấy người đi cuối đoàn nghe thấy. Có một ông đứng tuổi, mặc bộ “vét-can” dừng lại, bước vào nhà nói gì đó với Má rồi nhìn lên mấy chổ ngói lủng trên mái, gật gật đầu rồi bước ra tiếp tục đi theo đoàn kinh lý của chính phủ. Chiều hôm ấy một chiếc xe jeep lùn đổ xịch trước nhà tôi, rồi một người lính khệ nệ khiêng vào một bao hàng cứu trợ. Tôi không nhớ chính xác là những gì hình như có mươi cân gạo, mấy chai tàu vị yểu và mấy gói vị tinh. Anh lính chỉ bảo “Chính phủ gởi hàng cứu trợ cho gia đình!” rồi ra nổ máy xe chạy mất. Và đó cũng là những ngày cuối cùng chúng tôi được ở bên Má tại quê nhà. Tuần sau đó, anh Hải, chồng chị Khánh đưa tàu Hải quân chở hàng cứu trợ ra Huế và đón Má vào Sài gòn sống với anh chị. Và gần 7 năm sau, năm 1974 tôi mới lại được sống mấy ngày bên Má ở Sài gòn. Còn các chị em tôi thì phải đến gần 20 năm sau mới được gặp lại Má khi Má về thăm nhà sau bao nhiêu năm sống tha hương.

3. NGÀY ĐẦU BÊN MÁ Ở NHÀ CHỊ KHÁNH, KHU CƯ XÁ SĨ QUAN HẢI QUÂN THỊ NGHÈ
Dàu tháng 11 năm 1974, tôi được thấy Trưởng khoa Sư Phạm, Viện đại học Huế giới thiệu vào Bộ Giáo dục để tiến hành “chạy” sự vụ lệnh bổ nhiệm cho số sinh viên ra trường đợt 2 (trong đó có tôi) để kịp trình diện nhiệm sở và làm thủ tục hoãn dịch. Tranh thủ dịp này, tôi bay vào Nha trang thăm lại gia đình anh Châu mấy ngày, rồi theo xe lên Đà Lạt thăm gia đình anh chị Ấn-Quyên, anh chị Nga-Mân và các bạn cũ Lê đang ở Đà Lạt, Tôn và Bích Đào đang dạy ở Lâm Đồng và tôi đã có những ngày vui trọn vẹn ở thành phố sương mù này. Có dịp tôi sẽ kể lại kỷ niệm những ngày ở Nha Trang và Đà Lạt mà một trong những kỷ niệm không thể nào quên là sáng sớm hôm đó, Lê đưa tôi ra bến xe để xuống Sài gòn. Trời Đà Lạt tháng 11 rất lạnh. Thấy tôi mong manh chiếc áo len cánh tay, Lê vội cởi chiếc áo len dài tay màu vàng đang mặc trên người, đưa cho tôi: “Hải mặc vào đi, xuống đèo lạnh lắm đấy!”. Cũng may chiếc áo đan theo kiểu bó, ngắn. có bo dài và dày nên dù nhỏ con hơn Lê, tôi mặc cũng khá vừa vặn chứ không đến nỗi mặc ‘khín’ áo của bạn bè. Đi từ sáng sớm, nhưng đến hơn 3 giờ chiều mới đến Sài gòn. Lúc này chị Khánh đã chuyển vào ở trong khu Cư xá Sĩ quan Hải quân ở Thị Nghè. Tôi phải gọi xe ôm, thuê chở tới nhà chị Vân, 27 lô B Chung Cư Nguyễn Thiện Thuật và cùng cháu Cò, con gái đầu của chị Vân, đi taxi đến nhà chị Khánh.
Xe vừa dừng trước nhà, Cò đã lanh chanh gọi to, “Bà ơi! Có cậu Hải vào nè!”. Má từ trong nhà chạy ra, nheo nheo mắt nhìn tôi vừa ngạc nhiên, vừa mừng rỡ. Tôi chỉ muốn được ôm chầm lấy Má, nhưng không hiểu sao chỉ đứng yên một hồi, mắt rưng rưng. Má già và gầy hơn hồi ở Huế. Má bước tới nắm tay tôi, kéo vào nhà vừa mĩm cười vừa nói nhỏ đủ để tôi nghe. “Thôi nào, ‘ông Lưu Bị!’. Cháu Cò nó cười cho bây giờ!” (Chả là hồi bé, tôi rất mu khóc, chỉ cần các anh chị ‘nặng lời’ một tí là tôi đã rươm rướm nước mắt nên mới có biệt danh Lưu Bị này). Hai Má con kéo nhau theo hành lang hẹp xuống nhà ăn phía sau ngồi nói chuyện. Cò thấy Má con tôi bịn rịn, vội vã chào “Thôi, Bà với cậu ngồi nói chuyện nghe. Con xin phép về cả taxi chờ.” Tôi cám ơn cháu và dợm đứng dậy tiển cháu thì Cò bảo: “Thôi, cậu ngồi chơi với Bà đi. Mai mốt rãnh cậu qua nhà con tụi con đưa cậu đi chơi Sài gòn!”. Mừng được gặp Má, tôi quên mất đưa tiền cho cháu trả tiền taxi. (Và tôi đã nợ cháu tôi món nợ này đến bây giờ vẫn chưa trả được). Má ngồi quay ra trước, lưng hướng về phía bờ sông. Trong ánh chiều từ ngoài hắt vào, những sợi tóc bạc ánh lên, khuôn mặt chìm trong bóng tối nhưng tôi vẫn cảm nhận được ánh mắt dịu dàng, nét cười đôn hậu của Má đang hướng về mình. Má hỏi han chuyện ‘nhà mình ở Huế’, chuyện học hành của chị em tôi và ‘la’ tôi chuyện ham chơi để rớt tốt nghiệp đợt 1, chuyện về Chị và các cháu về ở với ông bà nội chúng có thoải mái không, chuyện giổ ông bà ngoại ở nhà 5 Cường Để, bao nhiêu là những dấu hỏi Má cất giữ từ khi chuyển vào Sài gòn năm 1968 được Má tuôn ra và tôi cố trả lời rõ ràng, rành mạch. Nhưng tôi có cảm giác trong dáng trầm ngâm khi nghe tôi trả lời, Má đã biết rõ những gì tôi sắp nói. Hình như Má hỏi dồn dập là để được nghe lại giọng Huế của các con, được giải tỏa nỗi nhớ quê, nhớ căn nhà 5 Cường Để nơi ông ngoại từ giả cõi vô thường, nhớ căn nhà số 10 Cường Để nơi Má đã chăm sóc và sẻ chia cùng Chị những ngày khốn khó nhất đời Chị, nhớ ngôi nhà 105 Gia Long, nơi có Ba và chị em tôi, nơi có căn phòng với khung cửa với những chấn song sắt nhìn ra khu vườn nhỏ thoang thoảng hương ngâu mỗi sớm tinh mơ. Và Má con tôi đã ngồi bên nhau suốt buổi chiều cho đến khi chị Khánh đi làm về. Sau này đọc được bài viết của chị Khánh về ‘Giọng Huế’, có nhắc đến chị Tư giúp việc người Kiên Giang và bài thơ “Mẹ cần gì ư?” với mấy câu ‘Mẹ cần người nói chuyện/ Cho mặn mà bữa cơm …’ thì tôi tin rằng cảm giác của tôi lúc ấy hoàn toàn là sự thật. Chỉ tiếc là trong những ngày ngắn ngủi bên Má, tôi đã không thể dành nhiều thời gian để là ‘người nói chuyện cho mặn mà bữa cơm …” của Má.

4. ĐÊM ĐẦU TIÊN Ở NHÀ CHỊ KHÁNH, SÀI GÒN THÁNG 11/ 1974
Tròn 40 năm rồi, nhiều hình ảnh trong ký ức cũng nhạt phai dần. Và những chi tiết về căn nhà của chị Khánh trong khu Cư xá Sĩ quan Hải quân ở Thị Nghè cũng nằm trong số ấy. Tôi chỉ nhớ man mán là nhà chị khá hẹp bề ngang, nhưng chiều dài thì sâu phải đến hơn 20 mét. Hình như gian ngoài cùng có một bàn thờ nhỏ, hình như góc phải là giường nhỏ chổ ngủ của chị Hà, chị chồng chị Khánh. Phòng thứ hai hình như là phòng khách, có kê bộ bàn ghế và một tủ sách. Phòng thứ ba là phòng ngủ của anh chị. Gian kế là phòng ngủ của hai bà cháu: Má và con gái lớn của anh chị. Góc trong, nếu tôi nhớ không lầm, kê một chiếc giường tấng: Bà tầng dưới, cháu tầng trên. Những ngày tôi vào thăm, cháu nhường cho tôi tầng này và hình như lên ngủ chung với cô. Kế phòng ngủ của hai bà cháu là phòng ăn và nhà bếp. Đằng sau căn nhà có một khoảnh đất khá rộng, giáp với bờ sông được Má trồng vài thứ rau, củ và 3-4 cây ớt. Một dàn bí đang bắt dỡ dang, nghiêng nghiêng như muốn đổ xuống dòng sông. Tôi phải dùng nhiều lần từ “hình như” vì những khung cảnh ấy, cho dù cố gắng tập trung để nhớ, cũng chỉ hiện lên rất nhòe nhạt trong tôi lúc này. Chỉ có hình ảnh Má, giọng nói của Má, ánh mắt và nụ cười là vẫn còn hằn sâu trong ký ức tôi.
Buổi tối đầu tiên ấy, thấy tôi đi xe một chặng đường dài, mệt mõi nên Má dục tôi đi ngủ sớm. Má nhắc tôi khi giăng mùng nhớ chèn kỷ vì “ở cạnh bờ sông, nhiều muỗi lắm con ạ!”. Khu cư xá cũng khá biệt lập nên khoảng 8-9 giờ đã im ắng. Má cũng lên giường ngủ sớm. Khi tôi thức dậy lúc nữa đêm, vẫn còn nghe tiếng ra-đi-ô từ giường Má. Tôi vén mùng, ngoái đầu xuống hỏi:
– “Má chưa ngủ à?”
– “Ừ, Má không ngủ được.”
Đài đang phát chương trình “Tiếng hát Dạ Lan!” và tôi tiếng ca Chế Linh não nề .. “và nơi ấy em ơi có gì vui xin biên thư về cho tôi … đêm nay trên đồn vắng, thương em thương nhiều lắm, em ơi biết hay chăng … tỉnh lẻ đêm buồn …”.
– “Răng Má không mở đài khác, nghe chi bài ni buồn rứa?”, tôi hỏi.
– “Ừ, cũng lạ con hí. Mấy bài nhạc ‘sến’ ni mà răng nghe vào buổi đêm, nhứt là những đêm mưa nó não lòng chi lạ.”. Rồi Má tắt ra-đi-ô. “Thôi con ngủ đi! Má cũng ngủ đây.”
Tôi chui trở lại vào mùng, nằm im, cố dỗ giấc ngủ. Trong lơ mơ, tôi vẫn nghe tiếng Má trở mình, tiếng Má thở dài, rất khẻ như sợ đánh thức tôi dậy.
Sau này, khi lên Ban Mê Thuột dạy học, đêm đầu tiên xa nhà, mở đài, nghe lại bài hát “Tỉnh lẽ đêm buồn!” và giọng ca nức nỡ của chàng ca sĩ lính người Chàm này, tôi mới chiêm nghiệm hết những lời Má nói đêm hôm đó. Có lẽ với những người lớn tuổi khi phải sống xa quê thì dù có là thủ đô Sài gòn hoa lệ hay thành phố San Jose hiện đại hay Buôn Ma Thuột ‘thủ phủ Tây nguyên” thì cũng chỉ là những “tỉnh lẻ” để từng “đêm buồn” cứ trôi qua, trôi qua, trôi qua …

5. BUỔI SÁNG ĐẦU TIÊN Ở NHÀ CHỊ KHÁNH
Lúc tôi thức dậy sáng hôm sau trời đã sáng tỏ. Chị Khánh, chị Hà đã đi làm và các cháu cũng đã đi học. Nhà im ắng chỉ nghe tiếng người văng vẳng phát ra từ chiếc ra-đi-ô nhỏ ở đầu giường Má. Má đang ở dưới bếp lui cui dọn dẹp, thấy tôi lò dò đi xuống, Má hỏi nhỏ: “Lạ nhà ngủ được không con?” Tôi thưa với Má, “Chổ mô có Má là nhà, răng mà lạ được?”. Má cười: “Anh ‘Cai Hủ’ ni cũng khéo nịnh hè! Thôi, đi rửa mặt, đánh răng rồi ăn sáng.” Thuở bé, chúng tôi rất sợ Má vì thấy Má nghiêm và ít nói hơn Mạ Năm. Nhưng từ những ngày Má con sống gian khổ bên nhau trong gần 2 tháng Tết Mậu thân ở khu tỵ nạn trường Bán Công, chị em chúng tôi được gần gủi Má, hiểu Má hơn và phát hiện ra Má cũng rất vui tính.
Khi tôi từ phòng tắm bước ra, đã thấy hai tô mì bốc khói thơm ngào ngạt. Tôi ngạc nhiên hỏi: “Ủa. Má chưa thời à?”. Má dịu dàng nhìn tôi: “Ừ, Má chờ con dậy ăn luôn cho vui.” Tôi kéo ghế mời Má ngồi và hai Má con vừa ăn vừa chuyện trò. “Ui chao, răng giống mì Châu Anh ri Má?”. Má cười. “Ừ thì Má nấu bằng mì vắt giống như của tiệm mì mà con.” Má cho biết là chị Khánh và các cháu sáng phải đi sớm nên nhà luôn nấu sẵn nước dùng, sáng đun sôi lên rồi luộc mì, phở hay bún, chan nước dùng vào là có sẳn bửa ăn sáng.
Trong khi đang ăn, tôi nhắc Má là Má quên tắt ra-đi-ô. Má lắc đầu nhẹ: “Không phải Má quên mô con. Để rứa cho có tiếng người …”. Má bỏ lững câu nói nhưng tôi như vẫn ‘nghe’ được mấy tiếng còn lại “… và thấy đở hiu quạnh.”
Sau này, chị Nguyệt kể lại với tôi khi sang thăm Má ở Mỹ, thấy Má mở ti-vi suốt ngày chị có hỏi đùa “Nó nói toàn tiếng Mỹ, Thím có hiểu chi không mà mở suốt ngày rứa? Mà cháu thấy Thím có coi mô nà?” Và câu trả lời của Má cũng y như đã trả lời tôi: “Để rứa cho có tiếng người …”. Bây giờ, có tuổi, sống xa con cái, mỗi khi bị vợ cằn nhằn vì mở ti-vi trong khi đang tưới cây, chăm hoa ở ngoài vườn hay đang nấu nước, pha cà phê dưới bếp, tôi bổng nhớ và thương Má vô cùng và cũng muốn nói với vợ mình đúng câu trả lời của Má:
“Để rứa cho có tiếng người … và thấy đở hiu quạnh.”

6. NHỮNG NGÀY NGẮN NGỦI Ở SÀI GÒN THÁNG 11/ 1974
Những ngày ở Sài gòn tuy ngắn ngủi nhưng biết bao nhiêu là kỷ niệm. Sau khi ăn sáng với Má vào buổi sáng đầu tiên ấy, tôi thay quần áo chỉnh tề, xin phép Má rồi đi bộ ra cổng cư xá Cửu Long, leo xe buýt lên Bộ Văn hóa-Giáo dục-Thanh niên (hình như nay là SEAMEO) để làm sự vụ lệnh bổ dụng. Thấy tôi lớ ngớ, lại nghe tôi thưa là sinh viên mới tốt nghiệp chứ không phải nhân viên của Khoa Sư phạm, lại thấy đang lo lắng vì giấy Hoãn dịch vì lý do học vấn sắp hết hạn, bác nhân viên già ở Bộ gọi tôi đến bàn làm việc của ông, lấy trong tủ một chồng hồ sơ dày trong cái ‘sơ-mi’ bằng giấy bìa, đưa cho tôi và bảo tôi ngồi xuống bàn trống bên cạnh, tìm xem hồ sơ của chúng tôi do Viện Đại học Huế chuyển vào nằm ở đâu để bác xem có giúp cho sớm được không. Đến hơn 10 giờ, tôi mới tìm thấy tập hồ sơ này. Bác nhân viên già cầm xem qua, rồi hẹn tôi chiều đầu giờ đến. Tôi cảm ơn Bác rồi ra công viên gần đó mua một xuất ‘cơm tay cầm’ và chai xá xị lạnh, tìm đến chiếc ghế đá ngồi nhấm nháp bửa ăn trưa của mình ngắm dòng xe qua lại nhộn nhịp trên đường Lê Thánh Tôn và ngạc nhiên khi nhớ ra là mình đang ở ngay giữa trung tâm Sài gòn hoa lệ. Khoảng gần 2 giờ chiều, khi tôi ghé lại Bộ, vừa bước vào phòng, bác nhân viên già đã vẫy tay gọi tôi lại: “Tôi đã làm phiếu chuyển hồ sơ của cậu qua Phủ Tổng Ủy Công Vụ. Chắc phải vài hôm nữa họ mới chuyển về lại để làm Sự vụ lệnh. Có gì tuần sau cậu ghé lại nghen!”. Trong khi tôi vừa lí nhí cám ơn bác vừa bối rối không biết làm gì để tạ ơn, thí bác nhân viên già mĩm cười, vẫy tay: “Không có gì đâu! Cậu đừng bận tâm! Thôi cậu về đi. Tuần sau gặp lại nghen!”. Tôi cúi đầu chào bác, mắt cay cay (cái thằng tôi hay mu khóc mà) cảm động trước tấm thịnh tình của bác. Sau này, những khi có việc phải đến nơi công quyền, ngồi chầu chực chờ đến phiên mình được giải quyết hồ sơ, nghe những câu trả lời dấm dẵng của các nhân viên nhà nước, tôi lại nhớ đến bác nhân viên già này, nhớ nụ cười tươi tắn và giọng Sài gòn thân thiện của bác và tự hứa với mình khi xử lý mọi công việc của cơ quan sẽ cố giữ cho được tinh thần mẫn cán của người công chức chính quyền Sài gòn này.
Rời trụ sở Bộ VH-GD-TN, tôi hỏi thăm đường rồi đi bộ lang thang đến chợ Bến Thành và đến bến xe buýt, đón chuyến xe về chung cư Nguyễn Thiện Thuật. Buổi chiều hôm đó Trâu (Vĩnh Hòa, con trai lớn chị Vân) lại dẫn tôi ngược lên ‘Sài gòn’ (hình như lúc đó trong suy nghĩ của những người đang sống ở ngay chính thủ đô thì khu sầm uất quận Một mới là ‘Sài gòn’?). Hai cậu cháu lang thang suốt một buổi chiều. Trâu bảo,”Lâu lâu cậu mới ghé Sài gòn, để cháu dẫn cậu đi cho biết ‘Thủ đô tưng bừng phố xá’ nhé để mai mốt cậu lên “ miền mênh mông cơn gió cao nguyên từng đêm lạnh lùng” tha hồ mà nhớ, nhớ ‘rức’ tim luôn!!!” Thế là cháu đưa tôi vào thương xá Tax chọn cho tôi một chiếc nịt da, rồi ghé La Pagode vừa uống cà phê vừa ngắm các cô gái Sài gòn xinh đẹp đi lại thong dong trên phố Tự do. Gần xế, đói bụng, cậu cháu lại vĩa hè Nhà thờ Đức bà ăn bò bía. Lần đầu tiên tôi được ăn món đặc sản nhưng bình dân của Sài gòn này. Hai cậu cháu ngồi bệt xuống lề đường, gọi thêm hai chai bia La Rue, vừa nhấm nháp vừa ôn lại những ngày cậu cháu cùng sống chung ở 105 Gia Long. (Tôi nhớ là năm 1973, Trâu, Dũng và Cường đều ra Huế học dự bị Khoa học, nhưng không hiểu sao năm sau Trâu lại về Sài gòn và Dũng về lại Đà lạt, chỉ còn Cường ở lại tiếp tục học rồi chạy loạn tan tác vào năm 1975). Ăn xong Trâu lại dẫn tôi đi xem xi-nê. Tôi nhớ hình như một bộ phim về Lý Tiểu Long. Điều tôi ngạc nhiên và buồn cười nhất là khi chúng tôi vào thì đang ở giũa phim và chúng tôi ngồi, xem hết phim, nghỉ giải lao 10 phút rồi xem tiếp lại từ đầu. Trâu giải thích cho tôi là “Ở Sài gòn người ta chiếu phim ‘thường trực’, nên mình muốn vào xem lúc nào cũng được và muốn ra lúc nào cũng được. Nhiều khi tránh nóng, tụi cháu chui vào rạp, vừa xem phim rồi ngủ luôn một giấc cho đến xuất chiếu cuối cùng mới thức dậy về nhà.” Khi ra khỏi rạp thì trời đã tối, Trâu bảo tôi về chung cư Nguyễn Thiện Thuật ăn cơm với gia đình chị Vân, nhưng sợ Má chờ cơm, nên tôi hẹn hôm khác. Cháu gọi xe ôm, hướng dẫn bác tài đường về nhà chị Khánh rồi đở tôi lên xe. Chúng tôi bịn rịn chia tay mà cả hai cậu cháu tôi đều không ngờ rằng đó là lần cuối cùng chúng tôi gặp lại nhau. Sau ngày 30 tháng Tư, Trâu cùng anh Phước, anh tôi, và mấy sư cô trong nhóm của cô Phùng Khánh theo tàu ra đảo Thổ Chu và đã một đi không trở lại. Sau này, khi gia đình chị Vân chưa đi định cư ở nước ngoài, mỗi khi có dịp về Sài gòn ghé thăm chị, hai chị em lại nhắc đến đứa cháu dễ thương này và bùi ngùi nhớ miệng cười toe toét và giọng rè rè như chuông vở của cháu để cùng cảm nhận lẽ vô thường của cuộc sống.
“Trâu ơi! Chắc giờ này cháu cũng đã hóa kiếp, đầu thai vào một gia đình tử tế nào đó rồi, nhưng hôm nào có dịp về Sài gòn, cậu sẽ đến chùa nơi thờ di ảnh cháu, để được nhìn lại nụ cười trong sáng của cháu, nhớ lại buổi chiều ngắn ngủi cậu cháu mình bên nhau và thắp cho cháu nén nhang để cầu chúc cho cháu trong kiếp mới tâm thân an lạc.”

7. TÔ HỦ TIẾU NAM VANG, LY CÀ PHÊ HÒA TAN VÀ GỢI NHỚ TẾT MẬU THÂN …
Những ngày sau đó ở Sài-gòn tôi tranh thủ tìm thăm mấy huynh trưởng trong phong trào Du ca rồi tìm thăm cô bạn học hồi lớp đệ Thất trường Bồ đề Thành nội và đệ lục, đệ ngũ Kiểu Mẫu Huế, người đã bỏ Huế vào Sài gòn sau những mất mát đau thương xảy ra cho gia đình bạn trong biến cố chính trị miền Trung 1966 (chuyện này tôi đã kể trong BẠN CŨ đã đưa lên tường nhà năm ngoái). Ngày thứ năm ở Sài gòn, tôi quyết định ở nhà một ngày với Má. Buổi sáng khi tôi thức dậy đã thấy Má lui cui dọn dẹp phía sau khu đất trống cạnh bờ sông. Tôi bước theo ra thấy Má đang vun mấy cây ớt. Nhìn dàn cây đang nghiêng nghiêng muốn đổ, tôi thưa Má để sáng nay ở nhà, hai má con sẽ sửa sang lại dàn cây. Má gật đầu, cười: “Ừ, cũng được chơ ở nhà không có việc chi làm cũng buồn. Nhưng mà đừng để bị té nghen!” Tôi chợt nhận ra Má bắt đầu dùng một số từ Nam bộ. Người Huế ít khi dùng từ ‘bị té’ mà dùng ‘ bị bổ” và thường kết thúc câu nói bằng từ “hí!” trong khi người miền Nam lại dùng “nghen!”.
“Mà khoan đã,” Má tiếp lời, “con vô ăn điểm tâm đi rồi làm gì thì làm!” Tôi lại nhớ là người Huế ít khi dùng “ăn điểm tâm” mà dùng “ăn sáng” và noái “mần chi thì mần” thay vì “làm gì thì làm”.
Khi tôi nói với Má nhận xét này. Má cười: “Ừ, thì hàng xóm láng giềng đều là người Nam, mình dùng từ ngữ Huế nhiều khi họ không hiểu mô con ạ. Nhập gia phải tùy tục thôi, con ơi!” Sau này khi đi dạy học ở Ban Mê Thuột, một “hiệp chủng quốc” như chúng tôi vẫn nói đùa với nhau, tôi càng thấy nhận định này của Má cực kỳ chính xác và nhiều khi tôi vẫn bị các em học sinh gốc Huế chay phê bình khi dùng nhiều phương ngữ miền Nam: “Răng Thầy người Huế mà Thầy noái như người miền Nam rứa? Coai chừng mất gốc đó nghe thầy!”
Sáng nay Má cho tôi ăn một tô giống như bún tàu với rất nhiều giá, thịt heo xắt mỏng với phần mở trắng tinh, nhưng phần thịt lại có màu đỏ gạch và mấy miếng gan xào rất thơm lại lác đác mấy con tôm và một quả trứng cút. Bên cạnh là một chén nhỏ nước dùng bốc khói thơm lừng. Khi tôi hỏi là món gì mà hấp dẫn vậy, Má bảo: “Hủ tiếu Nam vang đó con. Món ruột của người miền Nam đấy. Sáng nay chị Hà dậy sớm đi ăn sáng ngoài tiệm rồi mua về cho Má con mình hai tô đó.” Tôi ngạc nhiên vô cùng vì từ hôm tôi vào đến giờ chỉ gặp và nói chuyện với chị đúng hai lần, mỗi lần cũng chỉ vài câu. Tôi thấy chị hơi có vẻ lạnh lùng nên cũng không dám tiếp xúc nhiều. Không ngờ chị biết hôm nay tôi ở nhà với Má đã chiêu đãi hai má con tôi món đặc sản Nam bộ này. Má chỉ ăn có nửa tô, còn lại trút hết cho tôi. “Con ăn đi cho no rồi ra sửa lại cái dàn cho Má.” Trong khi tôi đang say sưa thưởng thức bửa ăn của mình thì Má đã lôi từ đâu không biết ra đủ thứ đồ nghề: búa, kềm, đinh … “Hôm trước anh Hải đang làm dỡ thì có lệnh hành quân nên anh còn bỏ đây. Con cứ ăn cho xong đã rồi làm. Vội chi, Má con mình còn cả ngày mà!” Má ngồi nhìn tôi ăn rồi khẻ thở dài. Chắc Má đang nhớ anh Phước đang đóng quân ở Cam ranh và Cường đang học đại học tận ngoài Huế. Lúc tôi ăn xong, Má dành dọn tô chén rồi hỏi: “Con uống cà phê hí? Mà chỉ có cà phê hòa tan thôi nghe, không có cà phê phin mô. À, mà con uống nóng hay đá?” Không đợi tôi kịp trả lời, Má đã quyết định luôn: “ Thôi, uống cà phê sữa đá đi. Sài gòn ni nóng lắm, uống đá cho mát.” Cầm ly cà phê Má pha cho, tôi nhắc lại những gói cà phê hòa tan trong mấy hộp đồ Mỹ được phát trong những ngày ở trại tạm cư Tết Mậu thân – hộp B1 có gói đường để uống “cà phê đen”, còn hộp B2 thì có gói kem và sữa bột để uống “cà phê sữa”. Má gật đầu rồi nhắc lại chuyện qua thăm mộ cô Thượng bên khu đất trường Sư Phạm phải đi ngang Tổng hội nơi có xác ông Việt cọng còn trẻ măng đang sình “thúi ơi là thúi” (sau này Ba tôi và mấy anh em tôi cùng mấy chú trong Ban quản trị khu tạm cư Bán công đã đào hố cạnh hàng rào để chôn cái xác này). Rồi chuyện mấy má con đi từ trường Bán công, ngược lên trường Jeanne D’Arc, rồi lại vòng qua phía sau lưng Bưu điện để đến thăm gia đình chị Anh Đào bạn chị Khánh, mãi vui khi về trời nhá nhem tối, đường vắng tanh, đèn đóm không có, lại lất phất mưa, mấy Má con phải vừa đi, vừa chạy, vừa sợ vì biết trong Bưu điện vẫn đang còn xác mấy ông Việt cọng chưa chôn.
Sau khi Má mất, Giao đã tìm lại được trong những di vật của Má một lá thư dài viết cho chị em tôi nhưng Má chưa kịp gủi đi. Trong thư Má nhắc nhiều về những ngày chạy loạn năm Mậu Thân, những vất vã Má đã nếm trãi để giữ được một chổ trên chuyến tàu đêm 28 tháng Tư kinh hoàng khi phải bỏ quê hương ra đi không mong có ngày trở lại, những gian khổ Má phải chịu đựng trong thời gian sống ở trại tỵ nạn. Chị em chúng tôi nghẹn ngào đọc thư Má, mắt rưng rưng và tai vẫn như nghe tiếng guốc mộc Má đi lộp cộp, lộp cộp trên đường Phan Bội Châu, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Hoàng Hoa Thám, Trương Định, Phạm Hồng Thái và nhiều con đường khác ở thành phố Huế quê nhà trong những ngày chạy loạn Tết Mậu Thân.

Leave a Reply