Tuệ Sỹ – Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ

Mai gởi một bài thơ tâm đắc:
 
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn…
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan…
Tống Mai – May 14, 2012 (TM)
* * * * *
* * *
 
Cảo thơm lần giở…
Bùi Giáng viết về thơ Tuệ Sỹ.
Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u…. Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:

 
Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy
Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi
Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ
Trí Hải đa tàm trúc loạn ty

Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.
 
Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ “Không đề” của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:
 
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ
Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.
 
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn
 
Tôi hoảng vía đề nghị : Đại Sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho, Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.
Ông đáp : – Để về hỏi lại cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.
 
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Cung trời
Hội cũ
 
Xin xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì? – Cung trời hội cũ.
 
Một hội đạp thanh ? Một hội nao nức ? – “Giờ nao nức của một thời trẻ dại ?”.
 
Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ…
 
Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh…. Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.
 
Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi người đều “phải nói” với mọi người “muốn nghe” với riêng mình “không thiết chi chuyện nói”.
 
Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói tất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay chẳng nghe. Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng phi giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de justice interne).
 
Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.
 
Vua Gia Long ngày xưa đã từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du : “Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc. Ai có tài thì trẫm trọng dụng (…). Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế?”.
 
Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu vì sao vị di thần kia cứ miên man như nằm trong cõi mộng thần di, hồn dịch!
 
Vua đã ban cho chan hòa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa lòng, vẫn chưa cứ thả mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.
 
Đáp: Ấy chính bởi đôi mắt nhìn đây mà thấy những đâu đâu.
 
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Cung trời hội cũ
 
Đôi mắt ướt? Đôi mắt của ai? Vì sao ướt? Vì lệ trào, hay là vì quá long lanh?
 
Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.
 
Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng?
 
“Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang”
 
Áo nào màu xanh? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối?Tôi nói không sai sự thật mấy đâu. Vì Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài Gòn tới chùa viếng ông đem quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.
 
Đôi mắt ướt tuổi vàng
Cung trời hội cũ
Áo màu xanh
Không xanh mãi
Trên đồi hoang
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ.
Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn
Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ?
Mình là thân Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?
 
Phải có nhìn thấy khuôn mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.
 
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
 
Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.
 
Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở
Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan
 
Ta tưởng như nghe ra “cao cách điệu” bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzche.
 
Thi nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?
 
Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du:
 
Cười với nắng một ngày sao chóng thế
Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng
 
Một tiếng “buồn chăng” lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một khúc tâm thanh đoạn trường:
 
Sen tàn cúc lại nở hoa
Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân
Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ
Bụi đường dài gót mỏi đi quanh
Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi :Đếm tóc bạc
Tuổi đời
Chưa
Đủ
Bụi đường dài
Gót
Mỏi
Đi
Quanh
 
Tiết điệu rạc rời như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ? Một tuổi xuân chưa vừa? Một tuổi vàng sớm chấm dứt? Một tuổi “đá” sớm từ giã mọi yêu thương?
 
Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ
Suối nguồn xa
Ngược nước
Xuôi ngàn
 
Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường với nhạt nhòa ủ rũ ngục tù.
Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.
 
Bùi Giáng

2 thoughts on “Tuệ Sỹ – Đôi mắt ướt tuổi vàng cung trời hội cũ

  1. Khg viết rồi lại viết,
    Cảm thấy quá nhỏ bé trước tư tưởng lời văn, tiếng thơ, của Tuệ Sĩ, Phạm Công Thiện, Bùi Giáng, Nhất Hạnh…., một chút do dự trước những con người ấy.
    Nhưng … Cảo thơm lần giở…. trước đèn,
    Một cái gì làm ta liên tưởng đến mùi thơm của những trang sách, tiếng nhạc ríu rắt cao vút mà ta từng bâng khuân mơ về nơi ấy, những ngón tay nho nhỏ đã gõ trên bàn phím những dòng chữ ta nhận được.

    Bỗng nhiên, tối nay, đứng trước tủ sách, ta đã thấy, đây sách kỹ thuật – oh nhiều quá, đây sách thơ văn, đây truyện đọc, đây sách tư tưởng tôn giáo…., rồi đây sách ta đã mua nó, còn đây sách biếu, sách thưởng …., ah! đây những sách được tặng , khg chút do dự, một cuốn, rồi hai cuốn…. được rút ra chỉ để nhìn lại những dòng chữ ai đó đã viết cho ta…
    Góp tất cả những sách vỡ này, kiến thức này, cũng chỉ là hạt cát trong sa mạc tư tưởng siêu thoát mênh mông của những con người ấy.
    Có một điều an ủi, ta nhận ra rằng trong hạt cát ấy cũng có tất cả, tuy khg thể nào so sánh được, nhưng cũng đủ cho chính ta sống và san sẻ một cách chân tình với những người thương yêu.

    Một chút suy nghĩ khi đọc về Tuệ Sĩ và Bùi Giáng.
    PHP

  2. Bài thơ này đã đươc viết theo lối Thư pháp và được treo trên tường nhà của TMai mà HMai đã đươc đọc một lần trong dịp gặp lại bạn học cũ lần đầu tiên cách đây hơn ba năm, sau gần 38 năm mất tin tức của nhau. Nhớ TMai ra đón HMai ở phi trường, hai đứa ôm chầm lấy nhau rồi nhìn kỹ mặt nhau coi thử bạn mình có thay đổi chi không, nhưng thật lạ mặc dù biết bao nhiêu biến đổi của cuộc đời, cô bạn nhỏ ngày xưa vẫn còn giữ đươc nét thanh thoát của những ngày còn đi học. Rồi hai đúa thức gần như suốt đêm để nhắc những kỷ niệm của một thời “tuổi vàng (của) khung trời hội cũ”.

    HMai chưa có dịp đọc văn của ông viết nhưng thơ của ông lại chứa đựng một tâm hồn thật sâu sắc và thâm trầm, và càng đọc càng thấy thấm thía những ngôn từ ông dùng trong thơ.

    HMai

    PS: Đã nhận đựơc mấy cái niêu TMai gởi, dẽ thương chi lạ, HMai thích nhất là mấy cái rế đựng niêu cho khỏi nóng làm HMai nhớ Huế quá ôi thôi. Ô Mai ăn gần hết một nửa rồi đó. Anh Lợi nói hai đứa mình sợ bưu điện thát nghiệp nên cứ gởi qua gởi về hoài.

Leave a Reply