Nước và Mơ (L’Eau et les Rêves)

Oct 2, 2016 (TM) (Sưu tầm từ vanviet.net)

 

Phê bình phân tâm tưởng tượng vật chất: Gaston Bachelard (1884-1962)
Thụy Khuê

Sau Phân tâm lửa, trong Nước và Mơ (L’eau et les Rêves), viết năm 1941, in năm 1943, Bachelard bàn tới lý thuyết phân tâm tưởng tượng vật chất.

Theo Bachelard, trí tưởng tượng của con người không bắt nguồn từ một đồ vật cụ thể, như cái bàn, cái ghế, mà bao giờ cũng bắt nguồn từ một vật chất: như nước, lửa, khí trời, đất, đá, máu, v.v. Để độc giả tiếp nhận dễ dàng xác định này, ta có thể lấy ví dụ trong thi ca Việt Nam: khi đọc câu thơ Nguyễn Du “Hương gây mùi nhớ trà khan giọng tình” ta thấy ngay hương và trà là hai yếu tố vật chất gây ra sự tưởng tượng về tình yêu và nỗi nhớ ở Kim Trọng. Hoặc trong câu “Buồng văn hơi giá như đồng”, yếu tố gây tưởng tượng ở đây là hơi, và cả hơi lẫn đồng đều là vật chất.

Bachelard không phân tâm nước, theo kiểu ông đã làm với lửa, ông xác định mục đích của cuốn sách như sau: “Cuốn sách của chúng tôi còn là một cuốn tiểu luận mỹ học văn chương. Nó có một mục đích kép: xác định bản chất những hình ảnh trong thơ và xác định sự thích hợp những hình thức với những vật chất cơ bản.” (Notre livre reste donc un essai esthéthique littéraire. Il a le double but de déterminer la substance des images poétiques et la convenance des formes aux matières fondamentales)[5].

Nói khác đi, cuốn Nước và Mơ muốn trả lời hai câu hỏi:

1- Hình ảnh trong thơ được “làm” bằng gì?

2- Loại hình nào hợp với loại vật chất cơ bản nào.

Bachelard cho rằng bốn nguyên tố vật chất cơ bản: nước, lửa, đất và khí trời là bốn nguyên tố chính mà óc tưởng tượng con người dựa vào. Cho nên, khi muốn tìm hiểu cấu trúc thơ văn, đặc biệt những hình ảnh trong thi ca, thì trước tiên phải xác định nguồn cội vật chất nào đã khiến cho nhà thơ tưởng tượng ra những hình ảnh đó. Vì vậy tác phẩm Nước và Mơ của Bachelard còn có thêm tiểu tựa Tiểu luận về trí tưởng tượng vật chất (Essai sur l’imagination de la matière).

Nước và Mơ được viết với tâm hồn thi nhân nhiều hơn triết gia và khoa học gia. Để bảo vệ lập thuyết của mình, về mối tương quan giữa nước và mơ, Bachelard để ngòi bút buông theo cảm hứng, với những lời lẽ rất thơ mà nhận định triết học, khoa học và tưởng tượng thi ca đan cài:

“Người ta không tắm hai lần trong cùng một dòng sông, bởi vì, trong sâu thẳm con người đã có định mệnh một dòng nước chảy. Nước là yếu tố chuyển tiếp. Là sự biến đổi bản thể tất yếu giữa lửa và đất. Kẻ hiến dâng cho nước là kẻ quay cuồng. Y chết dần trong mỗi phút giây, một cái gì đó trong thể chất của y không ngừng trôi đi. Cái chết mỗi ngày không phải là cái chết hoành tráng của lửa như những mũi tên chọc trời; cái chết mỗi ngày là cái chết của nước. Nước luôn luôn chảy, luôn luôn ngã, luôn luôn tự kết liễu đời mình bằng cái chết ngang. Qua hằng hà ví dụ mà chúng ta có thể tìm thấy trong tưởng tượng vật chất: cái chết của nước mơ màng hơn cái chết của đất và niềm đau của nước là vô tận”[6].

Ở đây, Bachelard xác định lại một lần nữa lập thuyết: lửa phát sinh ra tình yêu và từ tình yêu. Con người, sinh ra từ ngọn lửa (tình) và chết đi để về với đất. Người cũng như nước, chỉ là một yếu tố trung gian – bởi sống là cõi tạm – của sự đổi thay bản thể giữa lửa và đất. Còn nước, nước có vai trò gì trong cuộc sống này? Nước đem lại sự sống, nhưng nước còn biểu hiện cái chết, cái chết hàng ngày, trong mỗi phút giây, bởi vì nước “ngã”, nước trôi, nước chảy đi, nước nằm ngang, nước cuốn về thuỷ tận, là cõi chết. Vì thế cho nên, nước là yếu tố gây ra những tưởng tượng sâu xa nhất trong con người về sự sống, cái chết, Bachelard viết:

“Tôi luôn luôn cảm thấy cùng một nỗi sầu trước những dòng nước ngủ, một nỗi sầu đặc biệt như màu nước ao trong rừng ẩm, nỗi sầu buông thả, mơ màng, chầm chậm, tĩnh lặng. Đối với tôi, một chi tiết nhỏ li ti trong đời sống của nước cũng có thể trở nên một biểu tượng tâm lý chính yếu. Cho nên, mùi cây bạc hà nước, gợi lại trong tôi một thứ giao cảm bản thể, làm tôi tin rằng cuộc đời chỉ đơn thuần là một mùi hương, rằng cuộc đời toả ra từ mỗi cá thể giống như mùi hương toả ra từ mỗi thể chất, rằng cây cỏ mọc bên bờ suối toả ra tâm hồn của nước… Nếu tôi phải sống lại cho tôi thần thoại triết học về bức tượng Condillac[7] thấy vũ trụ đầu tiên và ý thức đầu tiên trong các mùi, thì thay vì nói như bức tượng: “Tôi là mùi hồng”, tôi phải nói “tôi trước tiên là mùi bạc hà, mùi bạc hà nước”. Bởi vì con người trước hết là một thức tỉnh và con người chỉ thức tỉnh khi ý thức thấy một cảm giác phi thường. Bản thân con người không phải là tổng số những cảm giác chung chung, mà là tổng số những cảm giác lạ thường mà y tiếp nhận. Như thế, những ấn tượng hiếm đã làm nẩy nở trong ta những bí mật thân quen. Chính vì gần nước và gần hoa mọc dưới nước, tôi mới hiểu rằng mộng mơ là một vũ trụ bốc mùi, và mùi hương toát ra từ sự vật là nhờ trung gian của người đang mơ mộng. Nếu tôi muốn nghiên cứu đời sống những hình ảnh của nước, thì tôi phải trả lại vai trò chủ yếu cho dòng sông, và cho những nguồn nước trên quê hương tôi”[8].

Bachelard đã dùng kinh nghiệm bản thân, từ nhỏ, khi ông tiếp xúc với mùi bạc hà nước, để dẫn con người trở về nguồn cảm hứng tiên khởi, trở về vùng đất đã phát sinh ra những mơ mộng đầu tiên của mình và đó là quê hương. Nhưng quê hương đối với ông, không chỉ là một vùng địa lý, mà là vùng vật chất, và chính ở những vật chất ấy mà trí tưởng tượng của con người phát sinh, nảy nở và thành hình:

“Tôi sinh ở một vùng nhiều sông và suối, hẻo lánh trong thung lũng Champagne, tên là Vallage vì có nhiều lũng nhỏ. Đối với tôi, căn nhà đẹp nhất là căn nhà dưới trời sương tháng mười, nằm trong lòng lũng, bên bờ nước chảy, dưới bóng thấp của thủy liễu và miên liễu.

Cái thú của tôi là đi dọc suối, ven bờ, theo chiều nước chảy, nước đem cuộc sống đến những nơi khác, làng bên […]

Nhưng quê hương là một vật chất hơn là một diện tích, nó là đá, là đất, là gió mùa, là hạn hán, là nước, là ánh mặt trời. Chính từ chốn ấy mà chúng ta đã vật chất hoá những mộng mơ của ta, và cũng bởi quê hương mà những giấc mơ của ta trở thành thể chất, có được những màu sắc cơ bản. Khi ngồi mơ mộng bên bờ sông, tôi hiến dâng tưởng tượng của tôi cho nguồn nước, nước xanh trong vắt, nước làm ngát cánh đồng. Tôi không thể ngồi cạnh một dòng suối mà không rơi vào những mộng mơ sâu lắng, không nhìn lại hạnh phúc của mình… Mà cũng không nhất thiết cứ phải là dòng suối của quê tôi, cứ phải là dòng nước của quê hương tôi. Dòng nước vô danh nào cũng có thể biết hết bí mật của tôi. Vẫn một kỷ niệm ấy trở lại bên bất cứ dòng suối nào”[9].

Đất, đá, nước, khí trời… ở Champagne đã tác động vào trí tưởng tượng đầu đời của Bachelard, nhưng không hẳn thế, cả những dòng nước khác cũng có khả năng như thế, và như vậy, quê hương chỉ là khởi thủy, là chỗ “dạy” cho ta bài học đầu tiên về tưởng tượng, và sau đó óc tưởng tượng của ta “tiến” xa hơn, tức là nó có thể “hội nhập” với bất cứ dòng nước nào, để tạo ra một hình ảnh. Từ một vùng trời khác, một quê hương khác, ở chợ Chua Me, Động Kỳ Thức, Sa Kỳ, Hàn Mặc Tử viết:

“Trăng là ánh sáng? Nhất là trăng giữa mùa thu, ánh sáng càng thêm ảo kỳ, thơm thơm, và nếu nhà thơ lắng nghe một cách ung dung, sẽ nhận thấy có nhiều miếng nhạc say say gió xé rách lả tả…

Sông? Là một giải luạ bạch, không, là một đường trăng trải chiếu vàng, hai bên bờ là động cát và rừng xanh và hoang vu và thanh tịnh…

Thuyền đi êm ái quá, chúng tôi cứ ngỡ là đi trong những vũng chiêm bao, và say sưa và ngây ngất vì ánh sáng.”[10]

Hàn không có chủ đích chứng minh điều gì, Hàn chỉ ghi lại những cảm giác, những hình ảnh hiện ra trước mắt, và những biến đối bản thể của vật chất từ nước sang trăng, từ sông sang ngân hà, rừng xanh, động cát… Nhưng những điều Hàn ghi đã cấp cho Bachelard một thực chứng hiển nhiên về tưởng tượng vật chất, một thực chứng không thể chối cãi được.

Nhưng vì chưa đọc Hàn, chưa biết Hàn đã chứng minh cho lập luận của mình, nên Bachelard vẫn tiếp tục chủ đích tìm cho ra sức mạnh ngầm nào đã tạo nên hình thức và nội dung những hình ảnh, ông cho rằng:

“Chỉ khi nào ta khảo sát những dạng thức [formes] và tìm ra được vật chất nào đã tạo ra một dạng thức như thế, thì ta mới có thể nói đến một học thuyết toàn diện về óc tưởng tượng của con người. Khi đó ta mới thấy rằng hình ảnh là một thứ cỏ cây cần trời, cần đất, cần chất liệu và dạng thức. Phải mất nhiều thời gian, nhiều khó khăn mới tạo được một hình ảnh, đúng như nhận xét sau đây của Jacques Bousquet: “Để tạo ra một hình ảnh, nhân loại cũng tốn công như để tìm ra một tính chất mới của cỏ cây” […]

Vậy chúng tôi tin rằng một triết thuyết về tưởng tượng, trước hết phải tìm hiểu mối liên hệ giữa tương quan nhân quả vật chất với tương quan nhân quả hình ảnh. Vấn đề này đặt ra cho nhà thơ cũng như cho nhà điêu khắc. Hình ảnh trong thơ, cũng có, một vật chất”[11].

Như vậy, Bachelard chắc chắn và quả quyết rằng: Vật chất “đẻ” ra hình ảnh. Lập luận của ông rất đơn giản: nhờ vật chất (như dòng suối, như cây bạc hà nước) mà ta có tưởng tượng, vì vậy nên ông gọi tên tưởng tượng này là tưởng tượng vật chất. Tưởng tượng vật chất cấu tạo nên hình ảnh, do đó hình ảnh nào cũng “có” vật chất ở trong.

Và ông viết tiếp những dòng sau đây, có thể coi là lập thuyết đầy đủ của ông về tưởng tượng vật chất:

“Chúng tôi đã từng khảo sát vấn đề [tưởng tượng] này. Trong cuốn Phân tâm lửa, chúng tôi đã đề nghị phân định những loại tưởng tượng khác nhau qua dấu ấn của những nguyên tố vật chất đã gây cảm hứng cho triết học truyền thống và vũ trụ luận cổ xưa. Thực vậy, chúng tôi tin rằng có thể xác định trong thế giới tưởng tượng, một luật tứ nguyên [loi des quatre éléments] xếp loại những tưởng tượng vật chất khác nhau, tùy theo chúng dính với: lửa, nước, đất hay không khí […] Muốn cho sự mơ mộng được tiếp tục khá lâu bền và không chỉ lấp trống một giờ thoảng qua, để có thể viết thành một tác phẩm, thì sự mơ mộng này phải tìm thấy cái vật chất của nó, [tức là] phải có một nguyên tố vật chất nào cấp cho nó cái chất liệu, cái luật tắc, cái chất thơ riêng của mình […]

Lessius một tác giả xưa đã viết trong cuốn “Nghệ thuật sống lâu” [L’art de vivre longtemps] như sau: “Những cơn mộng của người hay nóng giận thất thường nghiêng về lửa, về hoả hoạn, về chiến tranh, về giết người. Những cơn mộng của kẻ sầu não là đám tang, là mộ phần, là yêu ma, là chạy trốn, là hố sâu, là tất cả những gì buồn bã. Những cơn mộng của những kẻ nhiều mũi dãi thiên về sông hồ, lụt lội, chết đuối. Những cơn mộng của kẻ nóng máu, là chim bay, là những cuộc đua, yến tiệc, nhạc hội, cả về những điều mà người ta không dám gọi tên”. Vì vậy, mơ của những người buồn giận thất thường, về lửa. Mơ của những người sầu não về đất. Mơ của những người nhiều mũi dãi, về nước, và những người nóng máu mơ bay bổng như chim. Những cơn mơ của họ được tôi luyện trong một nguyên tố vật chất, nguyên tố này xác định tính chất của giấc mơ. Nếu ta chấp nhận rằng, mỗi chứng tật chung hiện rõ trên con người có thể liên đới với một sự chân thực mơ mộng sâu sắc thì ta sẽ sẵn sàng đoán mộng một cách vật chất. Vậy bên cạnh sự phân tâm mơ mộng, cần phải có một thứ phân tâm vật lý và phân tâm hoá học những giấc mơ. Sự phân tâm rất vật chất này nối lại với những quy tắc xa xưa cho rằng những bệnh cơ bản được chữa bằng những thuốc cơ bản. Yếu tố vật chất xác định bệnh và cũng chữa bệnh. Ta đau vì mộng và ta cũng khỏi vì mộng. Trong vũ trụ luận của giấc mơ, những yếu tố vật chất vẫn là những yếu tố cơ bản.”[12]

Tóm lại, qua kinh nghiệm bản thân, Bachelard nhận thấy mộng mơ được hình thành trên những yếu tố vật chất; qua sách vở, ông tiến tới lập luận chúng ta có thể giải thích mộng mơ bằng con đường vật chất và trong sự luận giải những mộng mơ, yếu tố vật chất là yếu tố cơ bản. Trở về với nguyên tố nước, Bachelard nghiệm thấy rằng:

“Những nhà thơ vui, sống như dòng nước chảy quanh năm, từ xuân sang đông: phản ảnh một cách dễ dàng, thụ động, nhẹ nhàng tất cả bốn mùa. Những nhà thơ sâu sắc, thấy nước sống động, nước tái sinh trong mình,, nước bất biến, nước ghi bằng dấu hiệu không thể xoá được, những hình ảnh của nó, nước là một bộ phận của thế giới, là chất dinh dưỡng những hiện tượng chảy xuôi, là yếu tố thực vật, là đài gương, là xác thân của những hạt lệ…

Nhưng, xin lặp lại rằng: Phải đứng rất lâu trước bề mặt ngũ sắc thì chúng ta mới hiểu được giá trị của chiều sâu. Thử xác định một số nguyên tắc kết hợp những hình ảnh bề mặt, thì ta sẽ thấy trường hợp cá nhân tự ngắm, tự yêu mình [narcissisme] nằm trong nguyên tắc chung của vũ trụ tự ngắm”[13].

Và ông đi đến kết luận: nếu nhận xét kỹ, chúng ta sẽ thấy tính cách nhất quán của nước. Và những hình ảnh về nước thường được xắp xếp theo một trật tự có tổ chức. Vì vậy, đi từ sự tìm hiểu nguồn thơ từ nước, ta có thể bước sang một thứ siêu thi học (métapoétique) về nước.

Tác phẩm Nước và Mơ, từ đấy, đi sâu vào sự phân tâm nước, như một nguyên tố phát sinh mơ mộng trong nhiều tác giả của văn học cổ kim Tây phương, Bachelard đi từ những dòng nước trong, khởi sinh những hình ảnh thơ mộng thoáng qua, đến những dòng nước đục, nước nặng, đưa ta vào khổ đau, cõi chết.

Chúng ta có thể thấy trong thi ca và âm nhạc Việt: từ nước trong như Suối mơ, Bến xuân của Văn Cao, Trăng mờ bên suối của Lê Mộng Nguyên, để tiến dần đến những dòng nước sâu hơn, như Đêm tàn bến Ngự của Dương Thiệu Tước và sau cùng đạt tới những dòng nước nặng, chở nỗi đau tuyệt vọng của con nguời, kết tinh thành vật chất, như Lệ là những viên đá xanh, tim rũ rượi của Thanh Tâm Tuyền.

Hoặc trong cùng một tác giả như Nguyễn Du, vẫn là nước, nhưng mỗi thứ nước chuyên chở một tình huống khác: nước trong gần gụi với những gặp gỡ mơ mộng ban đầu, tình yêu chớm nở:

Dưới dòng nước chảy trong veo,
Bên cầu tơ liễu bóng chiều thướt tha

Vẫn làn nước ấy, vẫn Kim Trọng ấy, mấy hôm sau, sâu hơn, nhớ thương đã chuyển sang màu khác, đã đạt tới mức khổ đau, khuất biệt:

Nước ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu.

Và như thế, nước sẽ không chỉ gồm thâu một nhóm hình ảnh quen thuộc, phát xuất từ sự ngắm nước thoáng qua trong mộng mơ vơ vẩn, một chuỗi mơ màng vụn vặt chốc lát, mà nước đã trở thành cột trụ nâng đỡ hình ảnh, nước trở thành kho tàng của hình ảnh, thành nguyên tắc xây dựng hình ảnh. Ở những câu thơ đớn đau trác tuyệt, nước đã trở thành vật chất, như trong thơ Hàn Mặc Tử:

Tôi dìm hồn xuống một vũng trăng êm,
Cho trăng ngập trăng dồn lên tới ngực

Tưởng tượng vật chất của Hàn đi từ trăng và nước, là hai nguyên tố chính trong thơ của Hàn. Vũng trăng của Hàn vừa ghê vừa lạ. Câu thơ không đả động gì tới nước, nhưng nước vẫn có mặt: giấc mộng của Hàn, trong cơn bệnh hoạn, vừa có trăng, vừa có nước, Hàn phải quay về với nước. Ở đây, trăng chính là nước và nước là trăng (vũng trăng, trăng ngập), và hồn là xác và xác là hồn (dìm hồn). Như vậy, cả hai yếu tố trăng lẫn hồn đều có khả năng vật chất hoá, tức là có thể lỏng ra hay đặc lại. Lập thuyết của Bachelard giúp ta tìm ra được nguồn cội vật chất của những câu thơ tuyệt vời, đồng thời xác định được bản lai chân diện mục của một nhà thơ: Một nhà thơ tài năng phải có khả năng biến đổi thể chất, từ lỏng sang đặc hoặc ngược lại.

Bachelard khảo sát thi ca của Edgar Poe mà ông coi như là một thứ siêu thi (métapoésie) đã đạt được nguyên tố nước là vật chất, nước mơ trong vật chất, ông tìm đến định mệnh của nước trong thơ Edgar Poe, và thấy đó là định mệnh làm cho vật chất sâu xa thêm, nước làm tăng giá trị của vật chất bằng cách cho nó chở thêm nỗi đau của con người[14]. Khi ấy, đêm cũng trở thành thể chất (subtance), nước cũng là thể chất. Chất đêm thầm kín hoà tan trong chất lỏng, như thể trời đem bóng tối tặng cho nước[15] và trong sự lộn đảo đó: nước sẽ không còn là chất lỏng để uống nữa mà chính nó sẽ uống bóng đêm.

Tất cả những biến đổi trạng thái từ lỏng sang đặc, đặc sang lỏng của vật chất mà Bachelard tìm thấy trong thơ Edgar Poe, chúng ta có thể tìm thấy trong những câu thơ hay nhất của Hàn Mạc Tử và cũng đau thương nhất của thi ca Việt nam, đó là những giọt lệ của Hàn: Bao giờ mặt nhật tan thành máu.

Hoặc trong phút giây Hàn trút linh hồn: Máu đã khô rồi thơ cũng khô.

Thụy Khuê

Leave a Reply