He’d fly through the air with the greatest of ease, that daring young man on the flying trapeze

Apr 26, 2017 (TM)

Chàng tuổi trẻ gan dạ trên chiếc đu bay.

Tên ông là William Saroyan. Ông là văn sĩ đầu tiên tôi yêu mến, yêu một cách ngây thơ. Tôi bị quyến rủ bởi giọng văn lững thững, sự mẫn cảm, cái cá biệt đầy thách đố của ông. Tôi tìm thấy tôi trong những câu chuyện ông viết.”  Richard Rodriguez đã nói như vậy về Saroyan.

Còn tôi, tôi có thấy mình trong những câu chuyện của Saroyan không? Không, tôi không gặp mình trong những câu chuyện đó nhưng tôi cũng bị cuốn theo những nhân vật của ông , họ ở ngay bên, ngoài đầu ngỏ, trên đường phố, trong những khu bình dân, trong căn gác mốc, họ là những người di dân tứ xứ đủ mọi chủng tộc … Và đặc biệt, trong một căn gác có một người viết văn đói meo, nơi đây, tôi nán lại lâu nhất, từ lúc bắt đầu làm quen với văn Saroyan thuở mới lớn trung học cho đến bây giờ đọc lại câu cruyện về chàng văn sĩ trẻ tuổi đói meo này tôi vẫn còn thấy nhói kim đâm trong lòng một sự thương cảm khó quên.  Một kẻ sống nghề viết văn chết vì đói…

He’d fly through the air with the greatest of ease
That daring young man on the flying trapeze.

Tống Mai
Apr 26, 2017

 

 

Chàng Tuổi Trẻ Gan Dạ Trên Chiếc Đu Bay

William Saroyan
Huy Tưởng dịch

Có thể nói đây chính là truyện khiến tôi lấy làm kinh ngạc nhất: theo một nghĩa nào đó, đây là truyện đầu tiên của tôi, mặc dù vào lúc này, tháng hai năm 1934, truyện của tôi đã được viết và đã đăng hàng tá trên tờ Story Magazine, và cũng khá nhiều trên tờ Hairenik, ấy là chưa kể những tạp chí khác như tờ Overland Monthly ở San Francisco, hoặc tờ The San Franciscan, The Boulevardier…Tôi thử gởi đến tất cả các toà soạn, và va phải nhiều việc đắng họng: hoặc là bị lờ đi không trả lấy một cắc nhuận bút, cao lắm là mười đô một truyện, như tờ The Boulevardier chẳng hạn. Truyện này được viết một mạch vào một ngày đầu tháng mười một, năm 1933, sau khi tôi đã viết toàn thể một loạt truyện thử nghiệm từ ngày đầu đến ngày cuối, tháng mười năm đó. Chắc một điều là, việc thử nghiệm đó đã thúc đẩy tôi viết nên truyện ngắn này. Trong và sau khi viết xong tác phẩm, tôi chắc mẩm thế nào cũng được tờ Story Magazine đón nhận vì tôi cảm biết tràn trề rằng nó là một truyện hay, được viết theo một văn thể hoàn toàn riêng biệt. Và quả nhiên đúng vậy.

NGỦ
Tỉnh giấc, nằm ngang giữa bao la nhân thế, tập cười và đùa vui, châm biếm tận cùng của tất cả, của Rome, và, vâng, của cả Babylon nữa, nghiến răng, kỷ niệm, nóng hực như núi lửa, những đường phố Paris, những cánh đồng ở Jericho, lắm cái trườn đi như loài bò sát lẩn mình, một phòng triển lãm tranh màu nước, biển cả và cá có mắt, hoà khúc, một cái bàn trong góc tháp Eiffel, điệu Jazz ở ca kịch viện, đồng hồ báo thức và điệu nhảy Claquette đượm mùi tận thế, nói chuyện với một cái cây, với sông Nile, tiếng hổ gầm của Dostoyevsky, và mặt trời tối sầm.

Trái đất này khuôn mặt của kẻ sống, cái hình thể không sức nặng, khóc than trên tuyết, âm nhạc trắng, cái bông hoa phóng đại to gấp đôi vũ trụ, mây đen, con báo trong chuồng trố mắt, không gian bất tử, ông Eliot xắn tay áo nướng bánh, Flaubert và Guy de Maupassant, một điệu hát không lời cổ sơ, Finlandia, toán học được dùi đẽo triệt để và nhẵn thín như đá mài, Jerusalem, con đường dẫn đến nghịch thuyết.
Bài hát âm trầm của người, tiếng thầm thì của một kẻ không nhìn thấy nhưng biết được một cách mơ hồ, giông tố ngoài cánh đồng lúa mì, một cuộc cờ, trấn tĩnh hoàng hậu, vua, Karl Franz, giống khổng lồ đen, ngài Charlot khóc, rồi Stalin rồi Hitler, và cả một đám dân Do Thái, ngày mai là thứ hai, cấm nhảy múa ngoài đường phố.
Ôi, cái phút giây chóng vánh và mong manh của một cuộc đời ấy. Nó đã chấm dứt, giờ đây lại trở về với đất.

THỨC
Hắn (kẻ sống) mặc quần áo và cạo râu, nhếch mép cười đểu với mình trong gương. Rất chi là không bảnh trai chút nào, hắn nói: Cà vạt của mình đâu rồi cà? (hắn chỉ có một chiếc). Cà phê và một bầu trời ảm đạm, sương mù Thái Bình Dương, tiếng gầm gào một chiếc xe điện chạy qua, thiên hạ xuống phố, lại thời gian, ngày, văn xuôi và thơ ca. Hắn nhanh nhẹn xuống cầu thang ra đường và bắt đầu tản bộ, không dưng nghĩ ngợi. May ra, chỉ trong giấc ngủ, chúng ta mới biết chúng ta dang sống. Chỉ lúc đó trong cái chết sống động, chúng ta mới gặp gỡ mình và nhân thế xa xăm. Thượng Đế và cả những thiên thần, tên tuổi các tổ tiên chúng ta, cái thực thể của những giây phút xa xôi, chính nhờ giấc ngủ mà hàng thế kỷ hợp nhất trong khoảnh khắc, cái bao la vô bờ trở thành một nguyên tử bé tí, hữu hình của vĩnh hằng miên viễn.

Hắn đi vào ánh sáng ban ngày hết sức nhanh nhẹn, gót chân gây nên tiếng động rõ rệt, cảm nhận bằng đôi mắt về cái sự thô lậu của các đường phố và các công trình kiến trúc, cái sự tầm thường của những thực tại. Bất lực, hắn thầm hát, chàng bay qua không gian như đùa bỡn, chàng tuổi trẻ gan dạ trên chiếc đu bay, đoạn cười rũ rượi. thật là một buổi sáng tuyệt đẹp, ảm đạm, lạnh lẽo, và ủ rũ, một buổi sáng của sức mạnh nội cảm, chà chà, hắn nói, Edgar Guest, ta khát khao âm nhạc biết là chừng nào!

Trong một đường mương, hắn thấy một đồng tiền rơi rớt, đúng là một đồng xu cái thời 1923, và đặt nó trong lòng bàn tay, hắn quan sát đồng xu cặn kẽ, nhớ lại năm đó và nghĩ đến Lincoln, hình mặt nghiêng của ông được chạm trổ tỉ mỉ. Hầu như người ta không thể làm gì với một xu. Hắn nghĩ, mình sẽ mua một chiếc xe hơi. Mình sẽ ăn mặc theo lối công tử bột, chơi điếm ở khách sạn, ăn và uống rồi trở về với yên lặng. Hoặc mình sẽ bỏ đồng tiền vào máy tự động và tự cân thử coi nó nặng bao nhiêu.
Nghèo thì cũng quý lắm, nhưng đói thì khủng khiếp quá. Họ mới thèm ăn biết mấy, thèm các thứ đến rỏ dãi! Ôi những cái bao tử rỗng! Hắn nhớ lại, hắn cần thức ăn biết bao. Bữa nào cũng bánh mì, cà phê và thuốc lá, và bây giờ thì cũng chẳng có gì ráo. Cà phê mà thiếu bánh mì thì thực sự không bao giờ có thể thành bữa cơm chiều được, và chẳng có loài cỏ dại nào trong công viên mà nấu lên có thể bằng rau dền luộc cho được.
Sự thật thì, hắn sắp chết đói, và trước khi chết hắn còn phải đọc biết mấy sách cho hết. hắn nhớ lại cái gã trẻ tuổi người Ý trong một bệnh viện ở Brooklyn, một thư ký nhỏ bé đau yếu tên là Mollica, đã nói một cách tuyệt vọng, tôi muốn thấy California một lần trước khi chết. Và hắn nghĩ một cách tha thiết, it ra mình phải đọc Hamlet lại lần nữa, hoặc có lẽ Huckleberry Finn.

Chính lúc đó hắn mới tỉnh táo hoàn toàn, khi nghĩ đến cái chết. Giờ đây, thức là một trạng thái có tính chất khích động không dứt. hắn nghĩ, một người trẻ tuổi có thể chết thầm lặng, và hắn đã thực sự gần như chết đói. Nước lã và tản văn thì tuyệt lắm, chúng choán nhiều không gian vô cớ, nhưng chưa đủ. Phải chi có chút việc nào đó để hắn có thể làm kiếm tiền, một việc tay chân vụn vặt gì đó nhân danh thương mại. phải chi họ chỉ cần cho hắn ngồi trước một cái bàn, suốt ngày cặm cụi cộng những con số của thương hiệu, trừ và nhân chia, có lẽ hắn sẽ không đến nỗi chết đói. Hắn sẽ mua thức ăn đủ loại: các cao lương mỹ vị lạt lẽo từ Na Uy, Ý và cả Pháp nữa, tất cả các loại thịt bò, thịt cừu, cá, phó mát, nho, vả, lê, táo, dưa hấu, mà hắn sẽ phượng thờ sau khi thanh toán cơn đói. Hắn sẽ đặt một chùm nho đỏ trên một cái đĩa cạnh hai trái vả đen, một trái lê vàng óng, và một trái táo xanh. Hắn sẽ nhứ nhứ trước mũi mình một miếng dưa hấu, hàng giờ. Hắn sẽ mua những ổ bánh Pháp nâu lớn, rau đủ loại, thịt và sự sống.

Từ ngọn đồi hắn thấy thành phố nằm uy nghi ở phương Đông, những mái lầu cao chót vót, đầy đặc chủng loại hắn, rồi bỗng nhiên hắn thấy hắn đứng ra bên ngoài tất cả , hầu như rõ rệt mười mươi là hắn sẽ không bao giờ vào được, hâu như với cách nào đó hắn đã mạo hiểm vào lầm trái đất, hoặc có lẽ vào lầm thời đại, và giờ đây một chàng trai hai mươi tuổi phải vĩnh viễn bị trục xuất khỏi đấy. Ý nghĩ này không làm hắn buồn chút nào. Hắn tự nhủ, rồi đây chả mấy lúc e mình cũng phải viết Đơn xin phép sống. Hắn chấp nhận cái ý nghĩ chết đi mà không thương hại chính mình hoặc cho loài người, cả tin rằng ít ra hắn cũng sẽ ngủ thêm một đêm nữa. Tiền phòng ngày mai hắn đã trả rồi, nhưng vẫn còn một ngày mốt nữa. Và sau đó hắn có thể đến các nơi mà những kẻ vô gia cư khác đến. Hắn cũng nên đến viếng thăm Đoàn Quân Cứu Rỗi cầu nguyện lên Chúa và Jesus (chả thương gì linh hồn con), được cứu rỗi, ăn và ngủ. Nhưng hắn biết hắn sẽ không làm vậy. Đời hắn là một đời riêng. Hắn không muốn huỷ hoại sự thật đó. Chọn bất cứ một cách nào khác còn hơn.

Bồng Bềnh Trên Chiếc Đu Bay…hắn hát thầm trong đầu. Thật ngộ nghĩnh, thật khôi hài hết biết. Một chiếc đu bay, bay đến Thượng Đế hoặc đến hư vô, một chiếc đu bay đến cõi vĩnh hằng, hắn cầu xin một cách vô tư có sức màu nhiệm để bay trong duyên dáng.
Hắn nói, mình có một xu. Đó là một đồng tiền Mỹ hẳn hoi, chiều nay mình sẽ mài cho đến khi nó sáng bóng lên tựa mặt trời và mình sẽ nghiên cứu các con chữ đắp nổi trên đó.

Bây giờ thì hắn đang đi bộ ngay trong thành phố, giữa những con người đang sống nhởn nhơ. Có một vài nơi để đến. hắn thấy bóng mình phản ánh trên những ô cửa kính nhà hàng và tự chán ngán cho cái dáng mạo của chính mình. Hắn chẳng có vẻ mạnh khoẻ tí nào như hắn thường cảm thấy, thật ra, mọi bộ phận trong cơ thể hắn đều hơi hư lệch sao ấy, này cổ này vai này tay và cả thân hình lẫn đầu gối. Hắn nói, thế này thì coi sao cho đặng chớ. Và với một nỗ lực, hắn ráp nối tất cả các bộ phận rời ấy lại và trở nên căng thẳng, tạo ra cái vẻ sững sờ mà vững chắc.

Hết sức nghiêm trang, hắn rảo qua nhiều tiệm ăn, chẳng thèm liếc nhìn vào, để cuối cùng hắn bước vào một cao ốc. Hắn đi thang máy lên tầng bảy, lạng qua một sảnh đường, và, mở cửa bước vào văn phòng sở tìm việc. Ở đó, đã có khoảng hơn hai mươi thanh niên đang ngồi chờ; hắn tìm một xó xỉnh và đứng đợi đến phiên mình được hạch hỏi các thứ. Mãi rồi hắn cũng được cái đặc ân vĩ đại này và một cô gái già gầy guộc, khoảng năm mươi gì đó, lơ đãng chất vấn này nọ.

Cô nói, Bây giờ cho tôi biết cậu làm được những gì nào?
Hắn lúng túng. Tôi biết viết, hắn xúc động nói.
Ý cậu muốn nói là cậu viết chữ đẹp? Phải vậy không? Cô gái sồn sồn hỏi.
Hắn đáp, Ờ, ờ vâng. Nhưng tôi muốn nói là tôi biết..viết…
Cô kia hỏi, gần như cáu kỉnh, Viết gì mới được chứ?
Hắn đáp giản dị, Văn.
Im lặng. Sau cùng cô kia nói, cậu biết đánh máy không?
Người trẻ tuổi nói, Dĩ nhiên.
Được rồi, cô kia nói tiếp, chúng tôi có địa chỉ của cậu, chúng tôi sẽ liên lạc sau. Sáng nay chả có gì ráo trọi.

Tại các sở khác cũng hệt như vậy, trừ phi là hắn được chất vấn bởi những gã trẻ tuổi hợm mình giống như con heo. Rời những sở làm, hắn lại lò dò đến các thương xá lớn, ối chà! Cả đống kiểu cách, phần hắn thì chịu nhục đôi chút, và rồi cuối cùng thì người ta cho biết là không có việc làm. Hắn không cảm thấy phật lòng chút nao, và lạ thay hắn cũng chẳng hề cảm thấy là chính hắn có dính líu vào tất cả những chuyện phi lý đó. Hắn là một người trẻ, còn sống, đang cần tiền để có thể tiếp tục tồn tại, và chẳng có cách nào để có thể có tiền ngoại trừ phải làm việc để mà có, nhưng đâu có dễ gì, ôi chao! Đó hoàn toàn là một vấn đề khó hiểu mà hắn muốn thử giải quyết lần cuối cùng. Giờ thì hắn thoải mái, thậm chí vui sướng vì mọi sự đã đến hồi kết thúc.

Hắn bắt đầu nhận thấy cần phải vạch ra một nếp sống rõ rệt. Ngoại trừ một đôi phút, phần lớn đời hắn không màu mè gì lắm, nhưng giờ đây vào phút cuối hắn quyết định không còn được lờ mờ dấm dớ nữa.
Hắn đi qua vô số cửa hàng và tiệm ăn trên con đường đến Y.M.C.A. nơi hắn tự tiện dùng giấy và mực. Hắn bắt đầu viết Đơn. Hắn tiếp tục soạn văn thư này hàng giờ, rồi bỗng nhiên, vì cái không khí khó chịu ở nơi này và , vì đói, hắn ngất đi. Hắn cảm thấy như đang bơi ra khỏi chính thân xác mình bằng những sải lớn. Hắn vội vã rời toà nhà. Tại công viên Trung Ương, bên kia thư viện công cộng, hắn uống đến gần một lít nước và cảm thấy tỉnh táo. Một cụ già đứng giữa con đường lát gạch, bao quanh là chim hải âu, bồ câu và cả hoạ mi. Ông đang lấy từng nắm vụn bánh mì từ một bao giấy và ném cho chim với một bộ điệu hết sức hào hiệp.
Hắn lơ mơ cảm thấy muốn xin ông già một phần vụn bánh, nhưng vội gạt cái ý nghĩ đó ngay, hắn bước vào Thư Viện Công Cộng và đọc Proust suốt cả giờ, và rồi lại cảm thấy muốn ngất xỉu nữa, hắn bèn chuồn phóng ra ngoài. Hắn tọng nước máy ngoài công viên đầy bụng và bắt đầu cuộc đi bộ dài về phòng.
Hắn nói láp dáp, mình sẽ đi ngủ thêm chút xíu nữa, chả có việc gì khác để làm. Bây giờ hắn biết rằng hắn đã quá mệt và yếu lả để tự dối mình là mạnh khoẻ, thế nhưng dù sao đầu óc hắn vẫn có vẻ mềm dẻo và lanh lợi. Như là một thực thể cách biệt, nó vẫn khăng khăng bỡn cợt một cách xấc xược ngay trên chính cái đau thể chất của mình. Sớm chiều hắn về phòng và lập tức nấu cà phê trên cái bếp ga nhỏ. Trong hộp chẳng còn sữa, và nửa cân đường mới mua tuần trước cũng biến mất, hắn tợp một tách đen nóng, ngồi lên giường và cười.
Hắn lấy cắp ở YMCA một tá giấy viết thư, hắn định thảo một số văn thư trên đó, nhưng bây giờ thì ngay cái ý nghĩ viết cũng đủ làm cho hắn bải hoải khó chịu, chả có gì để nói. Hắn bắt đầu mài đồng xu lượm được hồi sáng, ấy thế mà cái hành động vô nghĩa này lại làm cho hắn thú vị quá trời. không có đồng tiền Mỹ nào có thể làm cho chói sáng như đồng một xu này. Hắn phải cần bao nhiêu xu để tiếp tục sống còn? Không còn gì để bán nữa sao? Hắn nhìn quanh căn phòng trống. Không. Đồng hồ đã biến mất, sách vở cũng lầm lụi ra đi. Tất cả những cuốn sách xinh đẹp và ngạo nghễ đó. Hắn cảm thấy khốn khổ và hổ thẹn vì đã phải xa lìa sách vở thân yêu.
Bộ đồ vía cũng đã mại với giá bèo hai đô, nhưng như thế cũng tạm được. hắn chẳng hề quan tâm đến quần áo. Nhưng mấy cuốn sách thì, việc đó khác. Nghĩ rằng đã không có sự kính trọng đối với những người viết lách khiến hắn bất bình phẫn nộ.
Hắn để đồng xu bóng loáng lên bàn, nhìn cặn kẽ vào với sự khoan khoái của một tên cay cú. Hắn nói, Nó cười duyên dáng làm sao. Hắn nhìn vào những chữ mà không thèm đọc. E Pluribus Unum Một Xu Hiệp Chủng Quốc Hoa Kỳ, và lật đồng xu qua, hắn thấy Lincoln và dòng chữ, Chúng Ta Tín Thác Tự Do Nơi Chúa, 1923. Ôi đẹp làm sao, hắn reo nhỏ trong cổ họng.
Hắn trở nên mơ mơ màng màng và cảm thấy một cơn bệnh khủng khiếp đang nhiễm tràn qua dòng máu, một cảm giác buồn mửa và rã rời. Hoang mang, hắn đứng cạnh giường, chả có gì để làm ngoài việc ngủ. Rồi hắn cảm thấy như bước sải qua một chất lỏng của trái đất, bơi về buổi sơ nguyên. Hắn vừa ngã úp mặt xuống giường vừa nói, Trước hết, ít ra mình cũng phải cho một đứa nhỏ nào đó đồng tiền này. Một đứa nhỏ có thể mua vô số đồ chơi các thứ với đồng một xu.

Rồi nhanh nhẹn và gọn gàng với cái duyên dáng của chàng tuổi trẻ trên một chiếc đu bay, hắn thoát khỏi xác phàm. Trong phút giây vĩnh cửu ấy, hắn là tất cả vạn vật cùng một lúc: chim, cá, loài gặm nhấm, loài bò sát, và cả người. Một đại dương hình ảnh cồn sóng bất tận và tối đen ôm chầm lấy hắn. Trái đất vẫn quay, hắn nhoài bộ mặt ngỡ ngàng ra bầu trời trống vắng và không còn biết gì nữa cả, không sống động, viên mãn, và hắn biết vậy.

 

The Daring Young Man on the Flying Trapeze
William Saroyan

I – Sleep

Horizontally wakeful amid universal widths, practicing laughter and mirth, satire, the end of all, Rome and yes of Babylon, clenched teeth, remembrance, much warmth volcanic, the streets of Paris, the plains of Jericho, much gliding as of reptile in abstraction, a gallery of water-colours, the sea and the fish with eyes, symphony, a table in the corner of the Eiffel Tower, jazz at the opera house, alarm clock and the tap dancing of doom, conversation with a tree, the river Nile, the roar of Dostoyevsky, and the dark sun.

This earth, the face of one who lived, the form without the weight, weeping upon snow, white music, the magnified flower twice the size of the universe, black clouds, the caged panther staring, deathless space, Mr. Eliot with rolled sleeves baking bread, Flaubert and Guy de Maupassant, a wordless rhyme of early meaning, Finlandia, mathematics highly polished and slick as a green onion to the teeth, Jerusalem, the path to paradox.

The deep song of man, the sly whisper of someone unseen but vaguely known, hurricane in the cornfield, a game of chess, hush the queen, the king, Karl Franz, black Titanic, Mr. Chaplin weeping, Stalin, Hitler, a multitude of Jews, tomorrow is Monday, no dancing in the streets.

O swift moment of life: it is ended, again the earth is now.

II – Wakefulness

He (the living) dressed and shaved, grinning at himself in the mirror. Very unhandsome, he said; where is my tie? (He had but one.) Coffee and a gray sky, Pacific Ocean fog, the drone of a passing street car, people going to the city, time again, the day, prose and poetry. He moved swiftly down the stairs to the street and began to walk, thinking suddenly. It is only in sleep that we may know we live. There only, in that living death, do we meet ourselves and the far earth, God and the saints, the names of our fathers, the substance of remote moments: it is there that the centuries merge in the moment, that the vast becomes the tiny, tangible atom of eternity.

He walked into the day as alertly as might be, making a definite noise with his heels, perceiving with his eyes the superficial truth of streets and structures, the trivial truth of reality. Helplessly his mind sang, He flies through the air with the greatest of ease, the daring young man on the flying trapeze, then laughed with all the might of his being. It was really a splendid morning: gray, cold, and cheerless, a morning for inward vigor; ah, Edgar Guest, he said, how I long for your music.

In the gutter he saw a coin which proved to be a penny dated 1923, and placing it in the palm of his hand he examined it closely, remembering that year and thinking of Lincoln, whose profile was stamped upon the coin. There was almost nothing a man could do with a penny. I will purchase a motor-car, he thought. I will dress myself in the fashion of a fop, visit the hotel strumpets, drink and dine, and then return to the quiet. Or I will drop the coin into a slot and weigh myself.

It was good to be poor, and the Communists-but it was dreadful to be hungry. What appetites they had, how fond they were of food! Empty stomachs. He remembered how greatly he needed food. Every meal was bread and coffee and cigarettes, and now he had no more bread. Coffee without bread could never honestly serve as supper, and there were no weeds in the park that could be cooked as spinach is cooked.

If the truth were known, he was half starved, and there was still no end of books he ought to read before he died. He remembered the young Italian in a Brooklyn hospital, a small sick clerk named Mollica, who had said desperately, I would like to see California once before I die. And he thought earnestly, I ought at least to read Hamlet once again; or perhaps Huckleberry Finn.

It was then that he became thoroughly awake: at the thought of dying. Now wakefulness was a state in the nature of a sustained shock. A young man could perish rather unostentatiously, he thought; and already he was very nearly starved. Water and prose were fine, they filled much inorganic space, but they were inadequate. If there were only some work he might do for money, some trivial labor in the name of commerce. If they would only allow him to sit at a desk all day and add trade figures, subtract and multiply and divide, then perhaps he would not die. He would buy food, all sorts of it: untasted delicacies from Norway, Italy, and France; all manner of beef, lamb, fish, cheese; grapes, figs, pears, apples, melons, which he would worship when he had satisfied his hunger. He would place a bunch of red grapes on a dish beside two black figs, a large yellow pear, and a green apple. He would hold a cut melon to his nostrils for hours. He would buy great brown loaves of French bread, vegetables of all sorts, meat, life.

From a hill he saw the city standing majestically in the east, great towers, dense with his kind, and there he was suddenly outside of it all, almost definitely certain that he should never gain admittance, almost positive that somehow he had ventured upon the wrong earth, or perhaps into the wrong age, and now a young man of twenty-two was to be permanently ejected from it. This thought was not saddening. He said to himself, sometime soon I must write An Application for Permission to Live. He accepted the thought of dying without pity for himself or for man, believing that he would at least sleep another night. His rent for another day was paid; there was yet another tomorrow. And after that he might go where other homeless men went. He might even visit the Salvation Army-sing to God and Jesus (unlover of my soul), be saved, eat and sleep. But he knew that he would not. His life was a private life. He did not wish to destroy this fact. Any other alternative would be better.

Through the air on the flying trapeze, his mind hummed. Amusing it was, astoundingly funny. A trapeze to God, or to nothing, a flying trapeze to some sort of eternity; he prayed objectively for strength to make the flight with grace.

I have one cent, he said. It is an American coin. In the evening I shall polish it until it glows like a sun and I shall study the words.

He was now walking in the city itself, among living men. There were one or two places to go. He saw his reflection in plate-glass windows of stores and was disappointed with his appearance. He seemed not at all as strong as he felt; he seemed, in fact, a trifle infirm in every part of his body, in his neck his shoulders, arms, trunk, and knees. This will never do, he said, and with an effort he assembled all his disjointed parts and became tensely, artificially erect and solid.

He passed numerous restaurants with magnificent discipline, refusing even to glance into them, and at last reached a building which he entered. He rose in an elevator to the seventh floor, moved down a hall, and, opening a door, walked into the office of an employment agency. Already there were two dozen young men in the place; he found a corner where he stood waiting his turn to be interviewed.
At length he was granted this great privilege and was questioned by a thin, scatter-brained miss of fifty.

Now tell me, she said; what can you do?

He was embarrassed. I can write, he said pathetically.

You mean your penmanship is good? Is that it? said the elderly maiden.

Well, yes, he replied. But I mean that I can write.

Write what? said the miss, almost with anger.
Prose, he said simply.

There was a pause. At last the lady said:

Can you use a typewriter?

Of course, said the young man.

All right, went on the miss, we have your address; we will get in touch with you. There is nothing this morning, nothing at all.

It was much the same at the other agency, except that he was questioned by a conceited young man who closely resembled a pig.

From the agencies he went to the large department stores: there was a good deal of pomposity, some humiliation on his part, and finally the report that work was not available. He did not feel displeased, and strangely did not even feel that he was personally involved in all the foolishness. He was a living young man who was in need of money with which to go on being one, and there was no way of getting it except by working for it; and there was no work. It was purely an abstract problem which he wished for the last time to attempt to solve. Now he was pleased that the matter was dosed.

He began to perceive the definiteness of the course of his life. Except for moments, it had been largely artless, but now at the last minute he was determined that there should be as little imprecision as possible.

He passed countless stores and restaurants on his way to the Y.M.C.A., where he helped himself to paper and ink and began to compose his Application. For an hour he worked on this document, then suddenly, owing to the bad air in the place and to hunger, he became faint. He seemed to be swimming away from himself with great strokes, and hurriedly left the building. In the Civic Center Park, across from the Public Library Building, he drank almost a quart of water and felt himself refreshed. An old man was standing in the center of the brick boulevard surrounded by sea-gulls, pigeons, and robins. He was taking handfuls of bread crumbs from a large paper sack and tossing them to the birds with a gallant gesture.

Dimly he felt impelled to ask the old man for a portion of the crumbs, but would not allow the thought even nearly to reach consciousness; he entered the Public Library and for an hour read Proust, then, feeling himself to be swimming away again, he rushed outdoors. He drank more water at the fountain in the park and began the long walk to his room.

I’ll go and sleep some more, he said; there is nothing else to do. He knew now that he was much too tired and weak to deceive himself about being all right, and yet his mind seemed somehow still lithe and alert. It, as if it were a separate entity, persisted in articulating impertinent pleasantries about his very real physical suffering. He reached his room early in the afternoon and immediately prepared coffee on the small gas range. There was no milk in the can, and the half pound of sugar he had purchased a week before was all gone; he drank a cup of the hot black fluid, sitting on his bed and smiling.

From the Y.M.C.A. he had stolen a dozen sheets of letter paper upon which he hoped to complete his document, but now the very notion of writing was unpleasant to him. There was nothing to say. He began to polish the penny he had found in the morning, and this absurd act somehow afforded him great enjoyment. No American coin can be made to shine so brilliantly as a penny. How many pennies would he need to go on living? Wasn’t there something more he might sell? He looked about the bare room. No. His watch was gone; also his books. All those fine books; nine of them for eighty-five cents. He felt ill and ashamed for having parted with his books. His best suit he had sold for two dollars, but that was all right. He didn’t mind at all about clothes. But the books. That was different. It made him very angry to think that there was no respect for men who wrote.

He placed the shining penny on the table, looking upon it with the delight of a miser. How prettily it smiles, he said. Without reading them he looked at the words, E Pluribus Unum One Cent United States of America, and turning the penny over, he saw Lincoln and the words, In God We Trust Liberty 1923. How beautiful it is, he said.
He became drowsy and felt a ghastly illness coming over his blood, a feeling of nausea and disintegration. Bewildered, he stood beside his bed, thinking there is nothing to do but sleep. Already he felt himself making great strides through the fluid of the earth, swimming away to the beginning. He fell face down upon the bed, saying, I ought first at least to give the coin to some child. A child could buy any number of things with a penny.

Then swiftly, neatly, with the grace of the young man on the trapeze, he was gone from his body. For an eternal moment he was all things at once: the bird, the fish, the rodent, the reptile, and man. An ocean of print undulated endlessly and darkly before him. The city burned. The herded crowd rioted. The earth circled away, and knowing that he did so, he turned his lost face to the empty sky and became dreamless, unalive, perfect.

Leave a Reply