Con sông dài đi tìm đi ánh trăng mười sáu – Doãn Quốc Sỹ

June 2, 2015 (TM)

Còn gì buồn hơn khi xuôi giòng, con sông còn phải ngoái cổ thắc mắc về một khúc quành….
Tống Mai

 

 

Khúc Quành Của Giòng Sông
(Trích Dòng Sông Định Mệnh – Doãn Quốc Sỹ)

Ô – tô từ Hà Nội đến quãng đầu tĩnh Bắc Ninh thì có một con đường đá rẽ về tay phải: đường 21. Đi sâu vào con đường đó – đi chân, đi xe đạp, đi xích lô hay đi xe hàng nhỏ nhỉnh hơn xe tắc xi một chút – chừng mười hai cây số thì gặp con sông Đuống nước đỏ ửng có bến phà.

Làng Thiệu được bà Ba giao cho trọng trách trông nom “em Yến” khi đi, khi ở trường, và khi về.
Khi đi khi về, Thiệu làm đầy đủ bổn phận; nhưng khi ở trường – nghĩa là trong giờ ra chơi – thì không bao giờ Thiệu nhớ đến Yến. Thiệu ham chơi lắm, còn mải đánh khăng, đánh bi, đánh đáo hay đá bóng.

Con sông Đuống mùa nước cạn trông thật chán phè – Thiệu nghĩ như vậy – nhưng Thiệu cũng không quên rằng nhờ có mùa cạn này Thiệu mới dám xuống nước để tập bơi một mình. năm lên bảy, một hôm Thày đưa Thiệu ra sông tắm, thấy Thiệu bơi mà ngạc nhiên.

Khi về Thày nói với Mẹ:
– Nó bơi giỏi như con nhà thuyền chài ấy mẹ nó ạ.

Vào mùa nước, Thiệu thích đi dọc theo con đê làng ngắm cảnh sông nước mênh mông. Mỗi khi ngắm như vậy Thiệu thấy quên hết những thứ mà Thiệu vẫn thích: đánh bi, đánh khăng, đánh đáo, đá bóng. Thiệu thấy hình như mình buồn rầu thì phải, nhất là khi ngắm khúc quành của con sông ở tít phía xa, trước khi cả dòng sông mất húy sau một lũy tre mờ mờ, có một cây đa vươn lên cũng mờ mờ. Về nhà hỏi Mẹ, Thiệu mới biết đó là làng Thái Lung – Thượng. Khi nghe Mẹ kể chuyện Thạch Sanh thì Thiệu đồ rằng có lẽ cây đa làng Thái Lung -Thượng là cây đa của Thạch Sanh ngày xưa. Đến khi nghe chuyện Phạm Công Cúc Hoa, Thiệu lại đồ rằng tại bãi tha ma bên kia bến phà hẳn là đêm đêm vẫn có những cảnh mẹ hiện hồn lên cho con bú như Cúc Hoa đã hiện hồn với hai con.

Thiệu nghĩ bụng: giá sau này Mẹ có chết, rồi chôn ở ngoài đồng, đêm đến Thiệu ra ngồi bên mả khóc thì thế nào Mẹ cũng hiện lên, Mẹ cũng ôm Thiệu, vuốt tóc Thiệu và lúc trời sắp sáng thế nào mà Mẹ chẳng đánh lừa: “Con hãy cúi xuống để Mẹ bắt chất cho con!” Thiệu sẽ không cúi xuống mà nắm lấy vạt áo Mẹ. Không hiểu làm thế Mẹ có sống lại không nhưng nhất định là Mẹ không biến vào mồ được rồi.

Yến đi học cùng Thiệu được hai tháng thì một buổi sáng chủ nhật kia Yến theo Thiệu ra đê ngắm sông.

Thiệu lại nói với Yến:
– Sông mùa cạn trông chán phèo!

Khúc quành đằng xa nhỏ hẳn đi, Thiệu chỉ cho Yến thấy lũy tre cùng cây đa và bảo: “Đấy là làng Thái Lung-Thượng.” Thiệu lõm bõm kể cho Yên nghe chuyện Thạch Sanh và kết luận: “Dưới gốc đa làng Thái Lung-Thượng cố nhiên là ngày xưa có Thạch Sanh.”

Yến hỏi:
– Thế làng mình cũng có cây đa, sao ngày xưa Thạch Sanh lại không ở?

Thiệu gạt đi:
– Mình có phải là người cùng làng với Thạch Sanh đâu. Thạch Sanh ở làng khác chứ, càng xa càng hay, mà làng Thái Lung – Thượng xa nhất lại cách sông nữa thì Thạch Sanh phải ở đấy chứ.

Lúc bấy giờ Yến mới gật đầu cho là phải. Buổi chiều, Thiệu dạy Yến bơi ở gần bến phà. Thiệu buộc túm hai ống quần và cạp quần để khi dìm xuống nước, cả cái quần phồng lên như bong bóng, Yến nắm lấy quần, úp mặt xuống, hai chân đập tầm phòng trên mặt nước. Một tuần sau Yến đã võ vẽ bơi một mình được.

Hai năm sau, Thiệu, Yến vẫn cùng đi học trường làng. Thiệu học lớp Nhì, mà yến thì theo lớp Ba, cuối năm thi “Sơ học yếu lược.” Sáng hôm đó Thiệu mặc quần đùi thâm và chiếc áo trúc bâu mới, lên đê ngắm dòng sông đang mùa nước. Lẽ ra theo ý Thày, Thiệu không được mặc áo mới đi chơi, nhưng Mẹ bảo: “Ông cứ để nó mặc cho nhàu hồ đi rồi tôi giặt.”

Xuống đến bến phà, Thiệu gặp Yến. Yến đương đứng trên cầu nổi, tay cầm que tinh nghịch cời những hoa, những quả, những cành củi trôi lướt theo dòng sát bên cầu nổi. Lúc đó phà đã sang bên kia sông và ở bên này chưa có ai tới đợi.

Yến hỏi:
– Thiệu đi đâu đấy?

Thiệu thò tay vào túi áo trúc bâu mới, vây vo:
– Đi lên đê ngắm sông.

Chỉ một thân chuối lớn đương lững thững từ xa trôi lại, Thiệu hỏi:
– Đố Yến thân chuối kia có trôi vào khoảng hoắm của bến này không nào?

Yến nghiêng đầu ngắm rồi đáp:
– Chắc là có, nếu không Yến lấy que cời vào.

Vừa lúc đó có quả gì như quả bưởi lướt qua gần bên ngoài.
Yến reo:
– Để Yến cời quả này vào đã!

Yến hơi kiễng chân vươn người về phía trước và khom lưng để gạt quả bưởi, bất chợt mất thăng bằng ngã tòm xuống nước. Yến chỉ kịp kêu lên một tiếng rồi bị cuốn theo dòng ngược chiều chảy sát bờ, chân đạp cuống quít trên mặt nước cố cho thân nổi lên.
Trong một thoáng rất nhanh, Thiệu nhớ ra rằng khi mức sông lên cao, khoảng hoắm này nước vẫn chảy thành vòng tròn. Nhưng ủa, không thể nghĩ lan man hơn được, Yến đang bơi vụng dại theo dòng sát bờ. Thiệu nhảy phăng xuống đón ngay cây chuối vừa giạt vào, đẩy ngay cây chuối ngược chiều nước men bên dòng chính, phía ngoài cùng.

Phải bơi nhanh, phải đẩy mạnh, mình là đàn ông mà – Thiệu nghĩ – để khi Yến theo dòng bên trong quành ra tới dòng ngoài thì đã có cái víu. A lê hấp, veo! Cây chuối đã được đẩy tới lần thứ năm và lao ra trước Yến đúng một sải tay. Khi Yến víu được cây chuối, Thiệu cũng vừa bơi tới. Thiệu phải bơi sát cây chuối và luôn luôn ẩn cây chuối vào để Yến khỏi lạng ra dòng ngoài. Khi cả hai đều đã leo lên cầu nổi, Yến nhìn Thiệu nhoẻn miệng cười, không biết nói cám ơn.

Thiệu đưa mắt nhìn dòng sông bên ngoài màu nước đỏ hung dữ như mặt người say rượu có chút máu điên, rất nhiều chỗ ngầu bọt trắng như màu nước dãi phòi ở mép bác cu Tý trong làng mỗi khi bác lên cơn ngất, tay chân giãy đành đạch (mãi về sau này Thiệu mới biết rằng bác Tý mắc bệnh động kinh).

Làm vẻ rất nghiêm trọng. Thiệu hất hàm hỏi mà không nhìn yến:
– Yến có trông thấy dòng sông bên ngoài không? Giá không nhanh tay đầy cây chuối kịp, Yến mà lạng người ra ngoài kia thì có thánh cũng không cưú được.

Không thấy Yến trả lời, Thiệu nhìn lại thấy vẻ mặt Yến lo lắng. Yến chỉ vào quần áo ướt sũng của mình:
– Làm thế nào về nhà được? Mẹ đánh chết!

Lúc bấy giờ Thiệu mới sực nhớ mình cũng sũng nước. Ôi thôi, chiếc áo trúc bâu mới may nay thành màu hồng xỉn, lại thêm mấy khoảng hoen ố lớn do nhựa chuối quệt vào. Nhưng chuyện mình hãy gác đấy, còn tính sao cho Yến đã chứ.

Thiệu bảo:
– Yến hãy theo Thiệu lên đê, sắp có người lại đợi phà rồi đó.

Thiệu bước ra khỏi cầu nổi leo nhanh lên khoảng vệ đê có mấy cây nhãn cao và mấy cây duối dại thấp. Yến cũng thoăn thoắt lên theo.

Thiệu hỏi:
– Thế bây giờ Yến bảo phải làm thế nào?

Yến nói:
– Sáng nay mẹ Yến phơi bộ quần áo thay của Yến ở giây thép ngoài vườn.

Thiệu cam kết:
– Để Thiệu về lấy cho.

Thiệu cởi phăng chiếc áo trúc bâu hung hung đỏ treo lên một cành duối. Thế là Thiệu cởi trần chỉ còn mặc chiếc quần đùi ướt sũng và nói:

– Thiệu sẽ chui vào vườn lấy trộm quần áo mang đây cho Yến.

Yến giao hẹn:
– Thiệu nhớ là quần đen, áo tím nhạt kẻ vuông.

Thiệu đã sắp sửa chạy về trổ tài, Yến còn hỏi:
– Thế nhưng Thiệu vào vườn nhà Yến bằng lối nào?

Thiệu để ngón tay trỏ lên miệng, bí mật:
– Có một lối Thiệu vẫn chui vào để nhặt những quả mận quả ổi rơi.

Thiệu nói là ” nhặt những quả rơi” cho lịch sự kỳ thực chính Thiệu leo lên, tuốt vội từng chùm quả, bỏ vội vào túi, rồi tuột vội xuống, lủi ra.
Cũng may mà đi suốt trên đường từ bến cho tới khi vào vườn Thiệu không gặp Thày, Mẹ hoặc các anh chị. Thiệu vừa chui lọt vào hàng rào dâu bụt, chưa kịp đứng thẳng người, đã có tiếng quát, tiếng của bà Ba:

– A … a! Ông tướng Thiệu! Có phải ông chui vào định ăn trộm ổi của nhà tôi để tôi chạy sang nhà mách nào!

 Rất nhanh trí – Thiệu cũng không hiểu sao lúc đó mình nhanh trí đến thế – Thiệu đáp:
– Thưa bác, cháu tìm con quay của cháu văng vào đây.

Rồi Thiệu làm vẻ vạch cỏ hàng rào chăm chú tìm. Khi bà Ba vào, Thiệu đưa mắt nhận ngay ra chiếc quần và chiếc áo tím kẻ ô của Yến. Chỉ một loáng, Thiệu đã lướt tới quơ được cả hai và lủi ra khỏi hàng rào. Qua cổng nhà mình Thiệu thấy bóng chị Hoa, Thiệu nhảy vội xuống vệ đường khom lưng lại. Chị Hoa không thấy Thiệu. Ra tới bờ sông khi đã đưa quần áo cho Yến thay, Thiệu cũng biết quay đi. Thiệu đã lên mười, Yến lên tám rồi còn gì.

Yến về, Thiệu cởi nốt quần đùi phơi lên bụi duối rồi nằm lẩn trong một bụi cây chờ cho quần áo khô. Thiệu len lén vào ngõ, chị Hoa trông thấy trước, giơ cả hai tay lên giời:

– Thôi thế là tong đời cái áo mới rồi, ông mãnh!

Nhưng nước mắt chị bỗng chảy quanh vì chị thấy Thày quắc mắt rồi nhìn quanh, ý tìm roi. Thiệu không lên nhà trên sợ gần nhà Yến quá. Thiệu lảng thẳng xuống bếp, chỉ vừa kịp đến đứng sau cối xay lúa, Thày đã tới và quất Thiệu ba roi cật lực. Thiệu đã nghiến răng mà tuy vậy mỗi roi nhận được vẫn còn phải thốt ra câu:

– “Con lạy Thày!” – Nhưng rất khẽ.

May sao Mẹ đã xuống, Mẹ vừa thay quần áo khác cho vừa nói:
–  Còn ham chơi, còn chết đòn con ạ. Làm sao mà khổ thế, thân lừa ưa nặng!

Mọi người đã vào mâm cơm trưa. Thiệu hoàn toàn yên lòng: cha, mẹ, anh, chị mắng thế là xong. may là Thiệu tinh ý xuống ngay bếp. Từ bếp cách một khoảng nhà trên, cách một cái vườn rồi mới đến nhà Yến, chắc yến không nghe thấy. Thiệu cho việc này giữ kín đáo như thế là phải, không nên để Yến thắc mắc điều gì.

Buổi chiều hôm đó, chú Hai ở Hà Nội về chơi mua quà riêng cho Thiệu một bánh sô cô la lớn gồm nhiều thỏi nhỏ bọc giấy thiếc. Thiệu lấy ra một thỏi và tìm Yến, bẻ đưa cho Yến một nửa. Khi ăn xong, Thiệu thấy bên mép Yến có một vệt sô cô La màu nâu xẫm. Thiệu thích vệt đó lắm, thành thử cứ mỗi lần lấy ra một thỏi sô cô la khác, Thiệu phải đi tìm Yến bằng được, bẻ cho Yến một nửa – nhiều khi quá nửa – để được thấy lại vệt sô cô la đọng bên mép Yến.

 

Con Sông Dài Đi Tìm Ánh Trăng Mười Sáu

Năm mười ba tuổi Thiệu đỗ bằng Sơ Học bổ túc và phải lên tỉnh Bắc Ninh trọ học. Thường thường các anh em cùng làng chạc tuổi Thiệu giỏi lắm chỉ theo đuổi việc học đến Sơ Học bổ túc là phá ngang, trừ con trai và con gái hai họ : họ Lê – họ Yến, Lê thị Yến – và họ Hoàng. Hai họ này vẫn nức tiếng khắp vùng là được đất nên mới nhan nhản những ông thông, ông phán, đốc tờ, kỹ sư … như thế.

Thiệu không ngờ việc mình được Thày cố công cho theo học đến nơi đến chốn có lý do thầm kín như sau:

Ông Phổ – thầy Thiệu – hồi còn nhỏ, nhà nghèo thất học, kịp khi gia đình tương đối khá, tậu được mấy mẫu ruộng tốt thì tuổi đã cao không học được nữa. Một buổi chiều tháng Hai, làng vào đám, ông Hương Phổ – ( ông Phổ ngày đó đã mua hương, người làng thường gọi tắt là ông Hương) – có đi qua chiếu các vị chức sắc ở giữa đình, trên chiếu đó có ông Phán Mỹ con quan huyện họ Hoàng, ông Thông Miễn con quan phủ họ Lê, ông giáo Minh cũng họ Lê có anh là bác sĩ hiện mở bệnh viện riêng ở Hà Nội. Ông Phán, ông Thông và ông Giáo đương mạn đàm với nhau về thi ca đến chỗ vô cùng đắc ý. Khi ông Hương Phổ đi qua, cả ba người nhìn ông rồi lại quay về nhìn nhau tiếp tục câu chuyện thơ. Ông Hương Phổ cũng cở tuổi họ, nhưng rõ ràng họ liệt ông vào hạng vô học, không thèm chú ý tới; có lẽ vì vậy câu chuyện thơ của họ, khi trở lại, càng đượm tinh thần tri âm tri kỷ. Ông Hương Phổ không bao giờ quên được cái nhục hôm đó tuy là cái nhục rất kín đáo. Khi bà Hương sinh đứa con trai đầu lòng- cậu Tín -ông Hương quyết định sau này nhịn ăn, nhịn mặc cho con ăn học. Ông tin rằng khi một đứa con ông đã thành tài thì việc học sẽ thành nếp, rồi “con chị cõng con em” chẳng bao lâu chi họ Nguyễn của ông cũng nhan nhản những tú tài, cử nhân, thông phán, đốc tờ … như họ Lê, họ Hoàng. Đáng tiếc là Tín lớn lên vào đúng những năm giời ra tai, năm thì hạn hán, năm thì mưa nát đất thối cỏ rồi lụt lội, năm thì gặp nạn sâu ăn lúa, ăn đỗ, thành thử Tín cũng chỉ học đến Sơ Học bổ túc rồi phải ở nhà giúp cha mẹ. Hoa kém Tín hai tuổi còn kém nữa, chỉ học đến Sơ Học yếu lược là thôi. Thiệu ra đời vào năm bà Hương mở thêm một ngành hoạt động mới trong gia đình, trồng dâu, chăn tằm, dệt vải.

Giấc mộng cho con ăn học thành tài của ông Hương có cơ thành tựu vì nền kinh tế gia đình nhờ thêm nghề mới đỡ bấp bênh đi nhiều. Khi Thiệu đi học trường làng gần hết cấp Sơ Học bổ túc, ông Hương đã lên tỉnh Bắc Ninh tìm nơi trọ để Thiệu tiếp tục việc học. Năm lên tỉnh học đó, Thiệu vừa mười ba tuổi. Trưa, chiều, ngày chủ nhật và ngày lễ Thiệu thường cùng các bạn tổ chức những cuộc đi chơi chùa, chơi núi nghĩa là những nơi có tiếng là danh lam thắng cảnh quanh vùng Bắc Ninh. Tuy chưa đỗ như Thiệu, Yến cũng không còn ở làng, Yến theo bác xuôi Hà Nội để tiếp tục đâu ở trường Hàng Cót thì phải. Tết năm ấy Thiệu gặp Yến ở làng, Yến bây giờ đã là người Hà Nội.

Thoạt tiên Thiệu cũng thấy hơi gờm gờm. kể ra phép đi đứng, ăn nói của Yến cũng có bạo dạn và kiểu cách hơn xưa, nhưng đối với Thiệu, Yến vẫn ngoan ngoãn không có vẻ gì là “làm bộ ta đây.” Rồi những ngày lễ, rồi Tết năm sau, mỗi lần gặp lại Yến, Thiệu thấy Yến có lớn hơn nhưng vẫn thùy mị như ngày nào cùng cắp sách đến trường làng. Sang đến Tết năm sau nữa – năm đó Thiệu mười sáu – gặp Yến, Thiệu thấy không những Yến lớn hẳn, Thiệu còn khám phá được thêm một điều mà từ xưa Thiệu không để ý: Yến đẹp, đẹp lắm.

Kế từ năm đó cả hai bắt đầu giữ ý.

Nghĩ đến tuổi mười sáu của mình, Thiệu ví với tuổi trăng tròn. Tự nhiên Thiệu thấy kiêu hãnh với tuổi đó. Chiều mười sáu tháng Giêng khi vừa tan học, Thiệu không về nhà trọ mà đạp thẳng về làng nói dối với Thày Mẹ là tối nay bài vở không có gì nên về quê cho tĩnh. Sự thực Thiệu cốt về quê để ngắm trăng mười sáu, Thiệu ra ngồi bờ sông từ chập tối để đón trăng ngay từ lúc trăng mới lững lững từ chân trời nhô dần lên. Bóng tối thảnh thốt hoảng chạy, một lát sau cả dòng sông Đuống gợn sóng vàng. Dưới nắng, sông chảy phơi phới; nhưng dưới ánh trăng tiếng sông bát ngát hơn. Lòng Thiệu tuy triền miên mà cùng thảnh thơi vì thấy mình còn nguyên vẹn cả mười hai tuần trăng mười sáu.

Rồi những ngày mười sáu tháng Hai, tháng ba, tháng Tư … hoặc gặp ngày chủ nhật hoặc không, Thiệu đều về làng để ra ngồi trên bờ đê ngắm “trăng của mình”. Đáng tiếc là đêm mười sáu tháng Sáu thì mưa lớn và đêm mười sáu tháng Tám thì bão lớn nên Thiệu chịu mất trăng. Từ đêm mười sáu tháng Chín trở đi, Thiệu bắt đầu lo sợ, lo sợ tuổi đẹp như trăng tròn của mình sắp vĩnh viễn mất. Trăng mười Bảy đã bắt đầu méo rồi. Trăng mười tám, mười chín càng ngày càng méo xệch. ” Hai mươi giấc tốt, hăm mốt nửa đêm,” nghĩ đến cái năm Thiệu hai mươi mốt tuổi phải chờ đến nửa đêm mới thấy trăng của mình thì thực là buồn, buồn và lạnh và ủ rũ như trăng hai mươi mốt vậy. Đến khi trăng hạ tuần từ hai mươi hai trở đi thì còn thảm đạm biết mấy. màu trăng thảm đạm võ vàng nhuộm sầu cả vạn vật như câu ca dao cổ:

Chờ em biết đến bao giờ?
Vạc kêu sườn núi trăng mờ đầu non.

Nhưng xét kỹ: cho đến tuổi hăm chín, trăng héo úa mà còn có trăng. Thê thảm thay cho kiếp người (theo sự suy nghĩ của Thiệu lúc đó) là kể từ tuổi ba mươi trở đi – “ba mươi, mùng một ai tìm thấy trăng.” Từ tuổi ba mươi trở đi là đời người bắt đầu đi vào quãng đường tăm tối, vĩnh viễn không trăng. Trời không trăng, đường trăng, tuổi không trăng. Thà chết quách! Và ý nghĩ đó càng làm Thiệu quý ba vừng trăng mười sáu còn lại. Đến vừng trăng cuối cùng – trăng mười sáu tháng Chạp – Thiệu quyết định thức suốt đêm. Buổi chiều tan học, Thiệu mua năm hào lạc rang ở bến ô tô rồi đạp ngược gió về làng. Chập tối Thiệu rót trộm một chút rượu của Thày rồi ra bờ đê để âu yếm nhìn vầng trăng vừa lên. Thiệu dự định tợp từng giọt rượu để tưởng như tợp từng giọt trăng: rượu, trăng và lạc. Nhưng rượu đắng quá, Thiệu không dám tợp đến lần thứ ba, đành ăn lạc thôi vậy. Trời tháng Chạp lạnh lắm, Thiệu chỉ thức và ngủ giữa tiếng dệt cửi của Mẹ; do thói quen, Thiệu hầu như loại hẳn được thứ tiếngđều đều đó ra ngoài vòng ý thức của mình. Nhưng tối nay ở bờ sông về, nghe tiếng khung cửi lên xuống, tiếng thoi đưa đều đều, Thiệu thấy âm thanh đó sao mà sầu thảm u uất. Thiệu khêu nhỏ ngọn đèn trong buồng và suốt đêm hôm đó, Thiệu ngủ phấp phỏng, thỉnh thoảng lại tung chăn vùng dậy ra hiên nhìn trăng và – không hiểu vì một liên tưởng gì – nhớ tới Yến, nhớ đến nghẹn ngào.

Khoảng nửa đêm tiếng khung cửi đã ngừng, mẹ và chị Hoa vừa đi ngủ, Thiệu rón rén ra sân ngẩng nhìn trời và nhận thấy chòm sao Orion xế đỉnh đầu vì ở sát ngay vừng trăng nên ba ngôi sao xếp thành hàng thẳng hình thắt lưng ở giữa bị mờ đi (Một ông cha ở Bắc Ninh đã dạy Thiệu tìm mấy chòm sao chính, trong đó có chòm sao này). Mấy lần sực dậy sau, Thiệu thấy lúc thì trăng tỏ, lúc thì trăng lẩn quất sau những đám mây khói vần vụ, lúc thì một vài sợi mây quấn lơi lả quanh trăng như chiếc khăn quàng mỏng, khiến Thiệu nhớ đến bài sử đời Trần Anh Tông vừa học tuần qua và liên tưởng tới khuôn mặt ủ ê của Huyền Trân Công Chúa khi rời đất Việt sang Chiêm Quốc qua đèo Hải Vân thốt ra lời bất hủ:

Chiều chiều ra đứng Hải Vân
Chim kêu ghềnh đá ngẫm thân em buồn.

Thiệu cho rằng Yến sau này không lấy Thiệu mà lại đi lấy người khác thì cũng chẳng khác gì Huyền Trân Công Chúa phải lấy Chế Mân.
Thiệu bèn lấy giấy bút viết một bức thư tỏ tình cùng Yến.
Lần cuối cùng khi Thiệu sực dậy ra sân ngắm trăng thì chòm sao Orion đã lặn, khoảng xế đỉnh đầu giờ đây là chòm Đại Hùng Tinh.

Sớm hôm sau người Thiệu mệt lã phải nghỉ học. Hăm bảy Tết năm đó Yến mới ở Hà Nội về quê và Thiệu mới có dịp trao bức thơ tình đầu tiên, trong đó những câu lâm ly nhất Thiệu đã kín đáo gạch bút chì đỏ ở dưới. Không biết Yến có chú ý đọc cả bức thư nói chung và những dòng gạch đỏ bên dưới nói riêng không, chỉ biết ngay chiều hôm đó khi Thiệu bất chợt gặp Yến ở bên nhà, Yến chỉ vội vã nói với Thiệu một câu:

– “Đừng anh Thiệu ạ.” Rồi đi về thẳng.

Thiệu không bực mình và cũng không thất vọng vì câu đó Yến nói bằng một giọng bối rối chứ không phải là giọng hắc hủi. Nhưng Thiệu cũng chịu không hiểu sao Yến lại bảo: “Đừng anh Thiệu ạ.”

Thiệu lên đê nhìn khúc quành của con sông ở khoảng làng Thái Lung Thượng, nghĩ lại hồi hai đứa còn nhò, Thiệu có lần cùng Yến đứng đây và kể chuyện Thạch Sanh cho Yến nghe. Ngày đó Thiệu nhìn dòng sông sao mà rộng, khúc quành sao mà cách Thiệu xa xôi. Ngày nay Thiệu đã lớn, dòng sông như nhỏ đi, khúc quánh cũng không còn tít mù tắt như xưa nữa. Con sông cũ hình như chuyển vào hồn Thiệu thấy lòng nhìn mênh mông dạt dào.

Mãi đến chiều mừng một Tết, Thiệu mới gặp Yến. Yến theo mẹ sang bên nhà Thiệu lễ Tết. Hầu như cả hai cùng cố quên, hay cố làm như quên, chuyện cũ. Có một đều Thiệu không thể nào quên được là: vốn xưa Yến đã đẹp, nhân dịp Tết này, Yến trang điểm trông càng lộng lẫy, Yến đẹp đến nỗi Thiệu tự nhiên rầu rĩ cả người. Rầu rĩ vì Thiệu thấy Yến đẹp như một vì sao. Mà sao với người thì thường cách biệt! Thiệu linh cảm thấy khó lòng Thiệu lấy được Yến làm vợ sau này. Sớm ngày mùng ba, Yến đã đi Hà Nội, Thiệu tưởng như mất Yến từ đấy. Chín giờ đêm hôm đó, Thiệu không sao nhắm mắt ngủ được, bèn lén mở cửa ra sông. Trăng thượng tuần đã lặn, trời tối đen như những đêm hạ tuần. Tiếng pháo đã lặn, trời tối đen như những đêm hạ tuần. Tiếng pháo đã ngớt ngay từ trưa. Ở các làng xa chỉ còn thấp thoáng bóng đèn như những bóng ma chơi. Thoảng mùi hương trầm, Thiệu biết rằng mùi trầm Tết đó đã quyện vào áo mình tự nhà, chứ ở đây thì còn ai đốt trầm? Đêm không trăng Thiệu chỉ còn nghe tiếng sóng sông dạt dào khi xa khi gần. Con sông dài như tương tư, như thao thức và đương lần đường đi tìm ánh trăng mười sáu.

Trích Dòng Sông Định Mệnh (Doãn Quốc Sỹ)

One thought on “Con sông dài đi tìm đi ánh trăng mười sáu – Doãn Quốc Sỹ

  1. From: Nguyễn Văn Hòa

    Dang tha hon vao moi tinh cua Thien va Yen .
    Thien thi van con dang trien mien trong hanh phuc vi gap lai nguoi xua , trong khi Yen thi mac cam khong muon tinh yeu bi than thanh vi biet rang minh chi la mot nguoi dan ba :
    ” Nhưng đồng thời Yến băn khoăn ngỡ ngàng đến sầu khổ vì phải tự đặt câu hỏi: “Hay là Thiệu yêu một thần tượng nào qua mình? Sao tình yêu thiết tha đằm thắm hồi hộp là vậy mà vẫn giữ bề ngoài trầm lặng.”
    Phải, nàng có thể kiêu ngạo với tình yêu ấy lắm nhưng chỉ có thể kiêu ngạo như ý muốn khi xứng đáng với nó, thành thử tình yêu càng thần thánh bao nhiêu nàng càng phải lớn bằng thần thánh bấy nhiêu. Giả sử – Yến biết lắm- nàng tầm thường thì chỉ có nàng rơi xuống mà ngẩng lên nhìn chính hình ảnh lý tưởng của mình vẫn vòi vọi trên cao. Chao ôi, Yến tự biết mình chỉ là một người đàn bà, bởi vậy nhiều khi nàng đành phải tránh cái nhìn của Thiệu và muốn kêu lên ảo não: “Anh Thiệu, Yến không muốn lớn bằng thần thánh, Yến chỉ muốn lớn bằng người! ”
    Hay , cam on TM

Leave a Reply