Chính Luận Trần Trung Đạo và “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” – Tống Mai

Sept 25, 2014 (TM)

“Chính Luận Trần Trung Đạo” và “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác”

Tống Mai
Virginia, Sept 21, 2014

Tôi viết bài này không để quảng cáo sách cho anh Trần Trung Đạo mà chỉ để nói về một người được sự thuơng mến của rất nhiều đồng huơng, xa hay gần, quen hay lạ. Nếu gặp Trần Trung Đạo thì sẽ hiểu tại sao không phải chỉ mình tôi dành một quí mến đặc biệt đối với người anh này. Chỉ mỗi chữ “Trung Đạo” mang chất Bát Nhã trong bút hiệu của anh cũng đã làm ta chú ý.

Đây là một nhà văn, nhà thơ, một nghệ sĩ, một giọng hát, một giọng ngâm thơ, một đầu óc chính trị chín chắn tâm huyết sôi nỗi với quê hương. Một tâm hồn đa dạng, nhưng nếu hỏi điều đầu tiên tôi muốn nói về Trần Trung Đạo, tôi sẽ nói về anh như một nhà văn, nhà thơ của tình người và dân tộc.

Gần đây, anh viết toàn về chính trị và mặc dù cũng bị cuốn vào những bình luận sâu sắc của anh, bị nhiểm nơi anh cái hy vọng quê hương rồi sẽ có một ngày mai tươi sáng, nhưng khi nhắc đến anh, tôi vẫn nhớ đến một con người của văn thơ. Khi “Chính Luận” ra đời, nghĩ mình sẽ không nghiền ngẩm nó kỷ lưỡng và nhiều lần như đã từng nghiền ngẩm những tác phẩm văn chương trước của anh, nhưng thật là lầm, dù thuần túy chính trị nhưng “Chính Luận” vẫn lồng trong đó tâm hồn chất đầy thơ của anh.

Muốn viết về anh đã lâu nhưng chưa gặp duyên, nên khi nghe anh xuống Washington DC để giới thiệu Chính Luận, tôi nghĩ mình có thể viết mà không thấy lạc lõng dù biết viết mấy cũng bằng thừa khi đã có quá nhiều tên tuổi viết về anh.

Hôm đó thứ Bảy, hai ngày sau Sept 11, trời mưa lớn, nhưng hội trường nhỏ nơi anh ra mắt sách trong một trường trung học ở Falls Church, Virginia thu hút hơn 250 người đến dự, có nhiều người đến từ những tiểu bang khác. Và quí thay, sách “Chính Luận” bán sạch, người mua ào ạt làm tôi dù cố gắng như chong chóng nhưng vẫn trở tay không kịp.  Người ta thương mến anh thấy rõ, họ thương cái uyên bác và cái bình dị đáng mến của anh, thương người đã viết bài thơ bất hủ “Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười”. Nhìn anh ngồi ký tặng sách liên tục không nghỉ mà ái ngại, hôm đó anh bị cảm nặng, cơn sốt hiện rõ trên mặt, nhưng không dám nói mình rất bệnh. Buổi nói chuyện chấm dứt sau ba tiếng rưởi đồng hồ, nhưng người ta vẫn níu kéo không cho anh về.

 Trần Trung Đạo và Đổi Cả Thiên Thu Tiếng Mẹ Cười

và quí thay, sách “Chính Luận” bán sạch

Người ta thương mến anh thấy rõ

Anh Trần Trung Đạo, GS Nguyễn Ngọc Bích

Thơ văn của anh lãng vãng hình bóng mẹ, những chiếc lá rơi hay ngôi chùa cưu mang anh ở Hội An thuở cơ hàn. Mẹ và chùa, còn hình ảnh nào đẹp hơn. Những bài thơ, bài viết của anh, có bài, có câu làm rơi nước mắt. Anh viết nhẹ như thơ, hay đến lặng người, đầy cảm xúc và gởi gắm cho nên có một mãnh lực kết “nối lòng người vời vợi cách xa nhau.” Ít ai đọc thơ anh mà không khỏi xúc động, mà không khỏi thấy lòng mình mở rộng bao dung.

Cuộc đời mồ côi từ bé của anh có lúc phải trôi nổi trà trộn với đám trẻ bụi đời, có lúc lại được trọ học trong chùa thuở nghèo khó nên thơ anh có nhiều hình ảnh chiếc lá. Anh ví cuộc đời mình như một chiếc lá bay. Hãy nghe anh viết, “…số phận của chiếc lá gắn liền với câu chuyện đời tôi. Ngày xưa khi trọ học ở chùa Viên Giác, tôi nhỏ nhất trong chùa nên được giao công việc quét lá. Anh Hùng gánh nước, anh Sáu tưới rau, chú Ngô đi chợ, còn tôi không làm được những chuyện đó nên chỉ lo làm sạch sân chùa. Không ai có phòng ngủ riêng. Năm đầu tôi ở chung phòng với chú Điển, bây giờ là Hòa Thượng Thích Như Điển. Mấy năm sau tôi dọn sang ở với các chú điệu cùng lứa tuổi trong căn phòng sát dưới gốc đa. Các chú điệu rất vô tư. Nằm xuống là ngủ ngay. Đúng giờ thức dậy đi tụng kinh khuya. Tụng kinh xong lại đi ngủ tiếp. Các chú hoạt động tự nhiên như những chiếc máy. Ít cười và ít nói. Tôi cũng cùng tuổi nhưng không như các chú điệu, đêm nào khi tới phiên mình đánh chuông xong, tôi thường nằm bên hiên chùa nghe tiếng lá reo. Nhất là mùa thu, tiếng lá rung như một điệu nhạc … và ở đó tôi lớn lên. Lớn lên trong tiếng chuông chùa nhẹ đưa vào đúng 5 giờ sáng mỗi ngày. Lớn trong những lời Phật dạy “Hãy bao dung và tha thứ” đi nhẹ vào tâm hồn ngây thơ trong trắng của tôi. Lớn lên trong tiếng lá đa xào xạt suốt mùa thu viết vào hồn tôi những vần thơ buồn, mãi ba mươi năm sau mới dần dần kết tụ. Và tôi cũng lớn lên dưới ánh sao của những đêm hè nằm nghe tuổi hoa niên thổn thức.”

Tôi gởi hai bài viết, Cây Đa Chùa Viên Giác Nhật Ký Ngày Giỗ Cha trích trong “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” rất Trần Trung Đạo của anh về tuổi thơ và tuổi trẻ u buồn của mình vang vọng tiếng chuông chùa từ sau cây đa cỗ gắn bó suốt đời.

Tống Mai
Virginia, Sept 21, 2014

 

Photo: TốngMai

 

CÂY ĐA CHÙA VIÊN GIÁC

Công việc làm buộc tôi thường dậy sớm, như sáng nay. Pha một tách cà-phê và ngồi nghe tiếng lá thu rơi, tiếng chổi của các thầy nhẹ vang. Một âm thanh quen thuộc vọng về. Kỷ niệm. Vâng, cũng ngôi chùa nhỏ, cũng quét lá trong sân chùa như thế. Mới đó mà đã 40 năm rồi. Bốn mươi năm mà như mới hôm qua. Cậu bé trong tâm hồn tôi cũng chẳng lớn hơn chút nào từ những mùa thu cũ. Ngày đó, năm giờ sáng, khi phần đông người trong chùa còn ngủ, cậu bé thức dậy bắt đầu công việc mỗi ngày của mình. Cậu bé phải quét lá sớm để bảy giờ thì đi bộ đến trường. Sân chùa rộng, nhiều khi vừa quét xong nhìn lại phía đầu sân bên kia, lá rơi đầy như trước, lại phải quét thêm lần nữa, nếu không thầy trụ trì thức dậy sẽ trách vì nghĩ là cậu bé chưa quét.

Mỗi buổi sáng tôi một mình ôm chổi Quét lá vàng như quét nỗi cô đơn Lá vẫn rụng khi mỗi mùa thu tới Như đời tôi tiếp nối chuyện đau buồn

Nhiều buổi sáng khi quét lá xong, trời còn sớm cậu bé ngồi trên bệ đá trước giảng đường học bài. Nhìn những chiếc lá đang nhẹ nhàng rơi xuống, cậu bé nghĩ về mình và những đứa bé cùng cảnh ngộ. Số phận của chúng cũng mang nổi cô đơn sâu thẳm và mong manh như chiếc lá đang rơi.

Thế hệ của cậu bé ngày đó là thế hệ của những chiếc lá bị cuốn đi trong mùa bão lửa. Lá rơi trên đường phố Đà Nẵng. Lá rơi dọc bến xe đò Hùng Vương. Lá rơi vào những hố rác hôi thối ở Hòa Cầm. Lá rơi bên ngoài các căn cứ lính Mỹ. Mỗi sáng, bên ngoài các hãng kem, hàng trăm chiếc lá tuổi mười hai, mười ba sắp hàng chờ nhận kem đi bán. “Trường học”, “mái ấm gia đình”, “tình thương cha mẹ”, “một bữa cơm ngon”, hình như lâu lắm rồi không ai nhắc với chúng những chữ gần như xa lạ đó nữa. Cuộc hành trình chúng đi không có bóng mát. Những bàn chân nhỏ nhoi trên con đường Việt Nam đầy hố đạn.

Cám ơn Đức Phật và những lời dạy của ngài. Tình thương, bao dung và tha thứ như những giọt nước mát rót vào tâm hồn cháy bỏng hờn căm của cậu. Nếu không có tiếng chuông chùa, không có lời kinh khuya ru tuổi thơ nhiều mất mác, cuộc đời cậu, như hàng triệu chiếc lá chiến tranh khác đang lang thang khắp ba miền đất nước sẽ về đâu?

Năm năm sau, vào một buổi chiều mùa thu, cậu bé đã trở thành một thanh niên 18 tuổi, lạy Phật ra đi. Hôm đó trời đã vào thu. Lá chưa rơi nhiều như sáng hôm nay nhưng tiếng xào xạt hòa trong gió lớn hơn. Hai cây đa già cùng tấu lên khúc nhạc tiễn đưa cậu bé. Tạm biệt chiếc đại hồng chung và những tiếng ngân dài, tạm biệt chiếc giường gỗ và bầy rệp đỏ, tạm biệt chiếc mùng ngăn muổi nhiều chỗ vá. Không giọt nước mắt nào nhỏ xuống trong giờ chia tay người đi kẻ ở, không, cậu tự tay mở cánh sắt nhỏ ngăn hai thế giới, và ra đi âm thầm như ngày mới đến chùa.

Chùa thanh tịnh chẳng dung hồn lữ thứ Một chiều thu tôi lạy Phật ra đi Bỏ lại tiếng chuông chùa vang khuya sớm Cây đa già đứng lặng khóc chia ly

Sáng nay ngồi nhớ lại mình và những đứa bé bất hạnh thời chiến tranh. Tự hỏi, những chiếc lá vàng trên hè phố Đà Nẵng, trên bến xe đò Nam Lộc, trong hố rác Hòa Cầm ngày xưa đã bay về đâu. Thời gian âm thầm trôi như giòng sông bất tận. Bỗng dưng thấy thương mình hơn bao giờ. Bỗng dưng thèm được về bên sân chùa cũ ngồi dưới ánh trăng thu để lắng nghe tiếng lá ru như tiếng mẹ vỗ về. Bỗng dưng thèm được hát, bài hát của một thời hoa niên đầy nước mắt. Nhưng không, tuổi thơ sẽ không bao giờ trở lại như những chiếc lá chiến tranh ngày xưa nay đã già, đã rơi tan tác ở một nơi nào đó trên quê hương hay đang thì thầm với mùa thu ở một góc phía nam của thành phố Boston xa lạ.

Dù bay bao xa, một ngày, chiếc lá cũng sẽ trở về, để được hôn lên mảnh đất đầy oan nghiệt nơi giữ gìn xương thịt của mẹ cha, và cũng để lần cuối cùng viết nốt những bài thơ dang dở.

Tôi viết nốt những bài thơ dang dở Vá tình người rách nát thuở hoa niên Ða sẽ hát bài đồng dao muôn thuở Nhạc thu buồn nước mắt chảy trong đêm

Thoi gian trôi trên sông đời bất tận. Bao nhiêu điều đã đến và đi trong ý thức nhưng thời gian trú ngụ ở chùa Viên Giác Hội An sẽ không bao giờ phai nhạt trong tâm hồn chúng tôi. Nơi đó, mái ngói cong, tiếng chuông chùa nhẹ đưa, tiếng lá đa xào xạc, tiếng kinh khuya vọng về đã trở thành một kho tàng sinh động cất giữ những suy tư sâu thẳm của tuổi học trò.

Ngày đó, chúng tôi sống thật khắc khổ nhưng không một tiếng than van. Những đêm nóng nực hai chú cháu chúng tôi rủ nhau vác chiếu ra ngoài hiên chùa nằm ngủ. Nửa đêm thức dậy, tôi ngẫn ngơ nhìn ánh trăng soi sáng sân chùa rộng. Ánh trăng vàng và tiếng lá đa xào xạc tạo nên một khung cảnh vô cùng thiêng liêng và huyền bí trong tâm hồn tôi từ đó đến giờ. Chú Điển ngày nay là Hòa Thượng Phương Trượng chùa Viên Giác nhưng trong hồn tôi hình ảnh bao dung, hiền hậu và rất dễ dàng tha thứ vẫn còn nguyên vẹn.

Ngày đó, ngoài các thầy và các chú điệu, chung quanh tôi không một bóng người quen. Tất cả những người thân đều lần lượt qua đời. Nhưng bây giờ tôi đến đâu cũng được nhiều người đồng hương thương mến. Âu đó cũng là đền bù của kiếp người này. Tôi bình thản đón nhận mọi đổi thay trong ý thức về duyên và nghiệp.

NHẬT KÝ NGÀY GIỖ CHA

Hôm nay là ngày giỗ cha tôi. Ngày đánh dấu ba mươi lăm năm chìm nổi của đời tôi. Ba mươi lăm năm là một quãng đời dài. Thế nhưng, tất cả chi tiết, hình ảnh về ngày bất hạnh đó vẫn còn nguyên vẹn. Buổi chiều cuối năm trong căn nhà tranh nhỏ ở làng Mã Châu, quận Duy Xuyên. Gần cuối bữa cơm đạm bạc như mọi ngày, cha tôi dừng đũa nhìn tôi và nói: “Ăn Tết xong, con xuống Viên Giác ở với thầy ăn học”. Tôi “dạ” đáp lời. Thật sự tôi không hiểu cha tôi nói như vậy có ý gì. Chiến tranh tuy đã lan rộng đến những vùng chung quanh, tiếng đại bác vọng về, màu hỏa châu soi sáng dọc bờ sông nhưng làng tôi cho đến đêm tháng Chạp 1968 vẫn còn tương đối thanh bình. Tại sao tôi phải bỏ đi? Tại sao đang sống bình an với gia đình, tôi lại phải xuống chùa Viên Giác, mãi tận Hội An, để ăn học?

Tôi biết cha tôi là đệ tử thầy Viên Giác. Ông rất kính trọng bổn sư và đã vài lần đưa tôi đến thỉnh an thầy. Thầy Viên Giác rất thương tôi. Thầy là Đặc Ủy Thanh Niên của Tỉnh Giáo Hội nên thường tổ chức các buổi văn nghệ lớn tại nhiều nơi trong tỉnh. Mỗi lần văn nghệ, thầy thường cho gọi Gia Đình Phật Tử Duy Xuyên, trong đó có tôi, đi theo. Thế nhưng, dù thân thiết bao nhiêu đi nữa, việc xuống ở luôn với thầy ăn học, như cha tôi dặn dò, là điều, trong trí óc thơ ngây của tôi, chưa bao giờ nghĩ tới. Cha tôi thì sao? Căn nhà thân yêu, ngôi trường xinh xinh và giòng sông nhỏ của tôi thì sao? Tuy thắc mắc trong lòng nhưng tôi vẫn dạ khi cha tôi dặn dò. Như một thói quen, tôi vẫn “dạ” nhiều lần trong những đêm khuya khi cha tôi ru tôi ngủ bằng những câu chuyện buồn nhiều hơn vui của đời ông. Cha tôi không giải thích lý do tôi phải ra đi và tôi cũng chẳng hỏi gì thêm. Nhưng buổi sáng hôm sau tôi mới biết ra rằng bữa cơm tối hôm qua là bữa cơm cuối cùng của cha con tôi trong căn nhà nhỏ ở Duy Xuyên. Lời dặn dò của cha tôi “Ăn Tết xong xuống Viên Giác” trở thành lời trăn trối của ông.

Cha tôi ra đi trong đêm tối trời tháng Chạp năm đó. Một viên đại pháo rớt vào căn nhà tranh của chúng tôi, nổ tung tuổi thơ tôi thành nghìn mảnh vụn, chặt đứt đi của tôi một tàng cây che mát cuối cùng, chỗ dựa thiêng liêng duy nhất mà tôi có trên thế gian này. Tôi thức dậy sau tiếng nổ với một thân hình đầy máu. Không phải máu của tôi nhưng là máu của cha tôi. Cha tôi ra đi không kịp nói với tôi thêm một lời nào khác ngoài những dặn dò sau buổi cơm chiều. Tôi áp ngực để nghe nhịp tim, vẫn còn đập nhưng vô cùng yếu ớt của ông. Cha tôi ra đi giữa lúc tuổi đời tôi còn quá nhỏ. Mười ba tuổi. Ông đến một nơi, tôi không chắc là đâu nhưng có một điều tôi tin, ở đó sẽ không có chiến tranh, không bom đạn, hận thù, nghèo đói, bịnh tật, những độc dược đã tàn phá gia đình tôi, và bao nhiêu thế kỷ hủy hoại đến mức tận cùng sinh lực của đất nước tôi.

Bao nhiêu năm qua, mỗi khi nghĩ về lời dặn dò của cha, tôi cảm nhận được trong đó sự kỳ diệu của tình người. Cha tôi phải ra đi nhưng đã tìm một nơi ông yên lòng nhất để gửi gấm tôi. Mỗi ngày, mỗi đêm, mỗi giờ, mỗi sát na mà tôi đang sống, cha tôi, qua hình ảnh một cơn gió nhẹ, một áng mây trên nền trời xanh, bao giờ cũng ở gần tôi, che chở cho tôi trong những cơn hoạn nạn, vực tôi đứng dậy sau những lần vấp ngã.

Tôi không nghĩ những lời dặn dò, trăn trối của cha là một điều siêu nhiên huyền bí. Tôi không tin cha tôi đã biết trước điều bất trắc sẽ xảy đến cho ông. Nhưng tôi cũng không nghĩ đó chỉ là những lời nói bâng quơ, ngẫu nhiên, vô tình, vô cớ. Phải chăng đó là một trách nhiệm tinh thần và máu huyết thiêng liêng giữa cha và con, giữa con người và con người trong trùng trùng nhân duyên với nhau từ bao nhiêu kiếp trước cho đến kiếp này. Tất cả đã thúc dục ông lo lắng, thúc dục ông chọn lựa và buộc ông nói những lời dường như cũng không phải của chính ông. Sau một thời gian sống với cô tôi ở Đà Nẵng cho đến hết trận Mậu Thân tàn khốc, tôi vào Vĩnh Điện học lớp đệ ngũ ở trường Duy Xuyên, lúc đó đang dạy nhờ tại trường Nguyễn Duy Hiệu. Sang niên học mới, tôi xuống Hội An và tìm đến chùa Viên Giác. Thầy Viên Giác, sau khi nghe câu chuyện thương tâm đã nhận lời cho tôi ở lại. Tôi không bạch với thầy lời cha tôi dặn vì tôi biết ông sẽ cười và gõ vào trán tôi mà nói “ai dạy con bài học chiến tranh tâm lý này sớm thế”.

Ở Viên Giác, ngoài giờ đi học và kinh kệ, ngoại trừ thầy trụ trì, từ các thầy, chúng điệu cho đến đám trẻ con có tóc như tôi đều được giao một công việc để làm mỗi ngày. Là một trong những người nhỏ nhất, năm đầu, tôi được giao công việc lau bàn thờ và bàn ghế trong giảng đường. Giảng đường chùa Viên Giác khá lớn. Những bộ trường kỹ dài, được đóng theo lối cổ và chạm trổ công phu, không một vết bụi vì rất ít được dùng. Công việc tôi làm như là một hình thức để trả cái ơn thứ ba, ơn cơm gạo của chúng sinh, trong Tứ Ân của Phật Giáo, hơn là lao động nặng nề. Chính giữa giảng đường là bàn thờ các Thánh Tử Đạo đã hy sinh vì Đạo Pháp trong mùa pháp nạn 1963. Dọc bức tường dài là di ảnh hàng chục thánh tử đạo Phật Giáo, từ chân dung Bồ Tát Quảng Đức, Hòa Thượng Tiêu Diêu, Đại Đức Thiện Mỹ, nữ sinh Quách Thị Trang cho đến anh Văn Bá Hoành, huynh trưởng Gia Đình Phật Tử quận Duy Xuyên của chúng tôi.

Anh Hoành là người ở ngay trong tỉnh Quảng Nam và là đệ tử của thầy Viên Giác nên cái chết của anh được kể lại một cách chi tiết và rõ ràng hơn cả. Một đêm tối trời trước ngày 1 tháng 11 năm 1963, một số người lạ mặt gõ cửa nhà huynh trưởng Văn Bá Hoành, kê súng và bắt anh đi. Tuần sau, gia đình tìm được xác anh trên một cồn cát cách nhà vài cây số. Hai tay anh bị trói bằng dây kẽm gai, mắt anh bị bịt chặt. Theo lời thân nhân, các thầy và các huynh trưởng Gia Đình Phật Tử đi nhận dạng anh, anh không bị bắn chết. Thay vì, từ những vết máu khô còn đọng trong đôi mắt, tai, mũi, họ nghĩ rằng, những người lạ mặt đã ném anh Hoành vào trong một bao bố, trói chặt và chôn sống anh trên bãi cát Tây An. Anh có tội gì để phải chịu đựng hình phạt thảm khốc đầy đau đớn như vậy? Một nông dân nghèo. Một huynh trưởng chăm sóc cho Gia Đình Phật Tử quận Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam. Một người chồng, một người cha chỉ biết vất vả sớm trưa để nuôi bầy con còn nhỏ dại. Chị Hoành sau ngày anh bị giết, buôn tảo bán tần vẫn không lo lắng nổi cho mấy đứa con, đành đem gởi trong chùa. Một trong những người con anh, một thời gian, đã được thầy Viên Giác đem về nuôi nấng như tôi.

Và ở đó, trong giảng đường chùa Viên Giác, mỗi buổi sáng, đúng 6 giờ, tôi thức dậy để lau bàn thờ và bàn ghế trong giảng đường. Mỗi khi lau xong bàn thờ Thánh Tử Đạo, tôi dừng lại một chút, nghiêm cẩn cúi đầu trước giác linh của những vị đã hy sinh để đạo Phật được đối xử một cách bình đẳng như mọi tôn giáo khác trong cộng đồng dân tộc. Những lúc như thế tôi bắt gặp đôi mắt của huynh trưởng Văn Bá Hoành nhìn xuống tôi. Có khi nghiêm trang. Có khi hiền dịu. Có khi đỏ au màu máu. Tôi nghe như có tiếng anh cười. Tiếng còi anh thổi thật nhanh trong những trò chơi lớn. Tiếng anh rên tức tưởi đau thương trong bao vải. Tiếng anh van xin như con nai cố thoát ra chiếc bẫy của người thợ rừng. Tiếng anh gọi vợ, gọi con ai oán trong đêm khuya giữa bãi cát trắng hoang vu. Mỗi buổi sáng lúc 6 giờ. Anh nhìn xuống tôi như muốn dặn dò, trao gởi những điều anh chưa kịp nói. Anh nhìn xuống như để mong tôi sẽ giúp anh tìm câu trả lời mà người giết anh, có thể đã bận lo bịt mắt, siết dây, nên không kịp trả lời. Họ là ai và tai sao họ phải giết anh. Trong giảng đường chùa Viên Giác tôi đã hứa với anh.

Vài tháng một lần tôi được phép về Đà Nẵng thăm cô tôi, người gần gũi nhất còn lại của tôi lúc bấy giờ. Cô tôi bịnh thường xuyên. Cái chết của gia đình người chị họ tôi, con thứ bảy của cô, và rồi cái chết của cha tôi, em trai út của cô, đã làm căn bịnh của cô ngày thêm trầm trọng. Chị Bảy, chồng, và con gái bốn tuổi chết khi chiếc xem lam họ ngồi chạy qua một trái mìn cực mạnh được đặt trên đường lớn chạy từ trạm Nam Phước lên chợ Quận Duy Xuyên. Thân xác họ bị mìn xé tan nát thành hàng trăm mảnh nhỏ. Các anh họ của tôi phải đi dò tìm trong những thửa ruộng hai bên đường để nhặt từng cái đầu, từng cánh tay, từng chút thịt. Tất cả được bỏ chung trong một cái nia lớn, sau đó chôn cất trong nghĩa địa gần nhà

Cô tôi có vẻ vui hơn trong những lúc tôi về. Biết tôi suốt tháng ăn chay nên dù rất nghèo, cô cũng ráng mua sắm thêm chút cá thịt cho bữa ăn. Cô thức khuya hơn, dặn dò tôi hàng trăm việc. Cố gắng nhịn nhục. Cố gắng chịu đựng. Cố gắng học hành. Cô hỏi thăm từng việc lớn nhỏ trong chùa tôi đang tá túc.

“Bà Chín có còn chửi mắng con không? ” “Không, bà Chín chết rồi” “Sao vậy? ” “Xe tông chết”. “Có ai đánh con không? “Không”. “Có ai bắt con làm chuyện gì nặng nề không? ” “Không”. “Thầy có biểu con đi tu không? ” “Có, nhưng không phải thầy Viên Giác”. “Thế ai biểu con? ” “Thầy Giải Nguyên”. “Thầy Giải Nguyên là ai? ” “Đệ tử của thầy Viên Giác ” “Con trả lời thầy Giải Nguyên sao? ” “Con nói con không muốn đi tu. ” “Thầy nói gì thêm? ” “Thầy nói đi tu sẽ được các thầy lo lắng ăn học, mai mốt lớn sẽ được đi Huế hay Sài Gòn học thêm. Không đi tu chẳng lẽ ở trong chùa này hoài hay sao. Chùa chỉ dành cho người đi tu thôi, đâu có thể nuôi con hoài như vậy được”. “Thế con trả lời sao? ” “Con không biết trả lời sao vì không biết nếu thầy đuổi sẽ đi đâu, nhưng con nhất định không đi tu”. “Thầy hay hỏi thế không hay chỉ hỏi một lần? ” “Nhiều lần nhưng tháng nầy thì không hỏi nữa vì con đã bạch với thầy là con nhất định không đi tu”. “Con đừng bỏ đi. Nếu thầy đuổi thì về Đà Nẵng ở với cô”. “Nhưng ở Đà Nẵng với cô thì chỉ đi bán cà-rem hay đánh giày chứ làm gì có trường công để học”. “Ừ thì lúc đó hãy tính”. “Con phải đi học”. “Cô biết, nhưng lúc đó hãy tính, giờ còn đi học được thì phải lo học”. “Dạ”

Hai cô cháu tôi thường ngồi như thế rất lâu trong căn nhà nghèo nàn phía trong Ngã Ba Huế. Một đứa bé bất hạnh ngồi bên người đàn bà bất hạnh trong một đất nước bất hạnh. Thỉnh thoảng cô đưa bàn tay gầy guộc cầm lấy tay tôi sợ rằng đứa cháu trai của cô sẽ khóc. Tôi không khóc. Cô không khóc. Không có hay vì không ai còn giọt nước mắt nào để nhỏ trong những đêm tôi về thăm cô. Nếu có chăng chỉ là những giọt nước mưa từ buổi chiều còn đọng trên mái tranh nghèo, như những nốt nhạc buồn, gõ từng nhịp đều vào chiếc lu hứng nước ngoài sân.

Ở Hội An những năm đầu tôi không có bạn. Bạn chân tình của tôi, ngoài hai cây đa già mà tôi đã nhiều lần viết về trong những bài tâm bút khác, chỉ còn là những vì sao trên nền trời. Những đêm hè, tôi và nhiều chú điệu khác, thường ôm chiếu ra trước hiên chùa nằm ngủ. Sân chùa rộng, lát gạch, những chậu hoa nhiều loại được đặt chung quanh một hồ sen nhỏ. Các điệu nằm xuống là ngủ ngay. Hồn nhiên như những giọt sương sớm trên cành. Tôi chưa hề nghe các chú than van. Không chú điệu nào thắc mắc tại sao chú phải đi tu, tại sao chú không được đi thả diều, đuổi bướm, đá banh như nhiều đứa bé cùng tuổi trong xóm. Dường như với các chú, tu hành không phải chỉ bắt đầu vài tháng, vài năm mới đây thôi nhưng là để nối tiếp một hành trình dở dang từ kiếp trước. Tôi thì khác. Tôi phải sống ở đây chỉ vì không còn một nơi nào khác để dung thân. Tôi đang chiến đấu để tồn tại trước bao nhiêu bất hạnh của thế gian đang đè xuống đôi vai nhỏ bé của tôi.

Những đêm khuya im vắng tôi ngồi dưới hiên chùa ngắm hàng vạn vì sao mọc kín vòm trời. Một cảm giác lạ kỳ, vừa ấm cúng nhưng cũng vừa cô độc, vừa rất thực nhưng cũng vừa hư huyễn thường đến với tôi trong những đêm khuya khoắt như thế. Tôi chọn một vì sao nhỏ, lẻ loi và xa xôi nhất trong dải thiên hà bát ngát để làm bạn với mình, để chia xẻ những buồn vui bắt gặp trong ngày. Tôi tâm sự với sao những chuyện thầm kín nhất. Những chuyện tôi chưa từng nói với ai và, dù tôi muốn, cũng chẳng có ai gần gũi để cùng san sẻ. Như thầy Giải Nguyên có lần đã cảnh giác, nếu không đi tu, sớm hay muộn, tôi cũng phải ra khỏi nơi nầy. Tôi biết. Tôi biết. Dù thế gian này là giả tạo và mộng tưởng, dù khoảnh khắc tôi đang sống là vô thường hay hữu thể, thì con đường dài sâu hun hút phía bên kia cổng tam quan chùa Viên Giác vẫn là con đường có thực. Con đường đầy gai gốc kia, một ngày không xa, trong cuộc đời này, tôi phải dẫm lên, tôi phải đi qua.

Những đêm gió mát, tôi thường nằm hàng giờ lắng nghe tiếng lá rung xào xạt, hồn đuổi theo những mơ ước riêng tư của lứa tuổi đang bắt đầu mơ mộng. Tôi mơ về một mái nhà ấm cúng. Một gia đình. Một người chị. Một đứa em. Một người bạn. Một chiếc xe đạp. Một thôn xóm thanh bình. Tôi mơ thấy cha tôi về. Vẫn chiếc áo cánh đen như ông thường mặc. Vẫn giọng hát bộ điệu Nam Ai buồn não nuột mỗi đêm trong căn nhà tranh nhỏ. Vẫn với hình ảnh của người thợ dệt vải nghèo nàn ở làng Mã Châu, mỗi ngày dệt dày thêm những sợi buồn phiền vào cuộc đời vốn đã nhiều cay đắng của mình.

Những đêm như thế, tôi nhớ lại hình ảnh chiếc trực thăng quân đội mang cha tôi đến một bịnh viện dã chiến mà tôi không biết tên, với hy vọng cứu sống cuối cùng. Tôi nhớ đến đôi tay người lính Mỹ ôm tôi lại để khỏi bị cuốn theo sức hút từ chiếc trực thăng đang cất cánh. Chiếc trực thăng bay xa, bay xa, nhỏ dần, nhỏ dần và mất dạng bên kia hàng dương liễu. Tiếng gọi cha của thằng bé mười ba tuổi bị át đi bởi tiếng máy trực thăng. Không ai nghe. Không có tiếng trả lời. Tiếng thét của tôi, như một viên sỏi nhỏ rơi vào biển cả, không tạo nên chút sóng, không để lại một âm vang nào. Và như thế cha tôi đi. Ra đi vĩnh viễn trong cát bụi mịt mờ. Tuổi thơ của tôi, từ hôm đó, như chiếc lá non bị cuốn vào cơn bão lửa mịt mùng của thế kỷ. Mỗi ngày 22 tháng Chạp, tôi tự mình đọc kinh cầu siêu cho cha.

Không ai biết, ngay cả chính tôi, đó là ngày giỗ cha tôi.

Và ở đó tôi lớn lên. Lớn lên trong tiếng chuông chùa nhẹ đưa vào đúng 5 giờ sáng mỗi ngày. Lớn trong những lời Phật dạy “Hãy bao dung và tha thứ’ đi nhẹ vào tâm hồn ngây thơ trong trắng của tôi. Lớn lên trong tiếng lá đa xào xạt suốt mùa thu viết vào hồn tôi những vần thơ buồn, mãi ba mươi năm sau mới dần dần kết tụ. Và tôi cũng lớn lên dưới ánh sao của những đêm hè nằm nghe tuổi hoa niên thổn thức.

Thang 8 năm 1972, tôi lạy Phật ra đi.

Sau lưng cánh cửa chùa cũng vừa khép lại.

Hôm nay ngày giỗ cha tôi. Ba mươi lăm năm trong một đời người. Từ Mã Châu, xuống Hội An, ra Đà Nẵng, vào Sài Gòn và chiều nay giữa xứ người trong mùa đông Boston giá rét. Con nước nhỏ dưới chân cầu Vĩnh Điện, Câu Lâu ngày xưa đã trôi xa thẳm. Trôi xa hàng vạn dặm. Những người thân yêu nhất trong thời hoa niên khốn khổ của tôi không còn nữa. Thầy Viên Giác đã viên tịch. Cô tôi đã chết. Cô tôi mất khi tôi còn ngồi trong tù vượt biển ở Bạc Liêu nên không kịp về Trung để tang cô. Ra tù tôi lại phải lo vượt biên lần nữa. Ngồi trên thành ghe tôi đau xót nhớ về cô. Ngày xưa tôi thường nói với các anh chị họ, nếu cô chết tôi sẽ không bao giờ về lại Mã Châu. Thế mà thật. Hai mươi hai năm rồi từ ngày cô tôi chết, hai mươi hai năm tôi vẫn chưa về lại Mã Châu. Tôi nhớ vô cùng bàn tay gầy guộc, chiếc áo cánh màu nâu cô thường mặc, nụ cười héo hon trong mỗi lúc thấy tôi về. Văng vẳng bên tai tôi những lời hỏi han, dặn dò, lo lắng của cô “Có ai đánh con không?”, “Có ai chửi mắng con không?” Tôi bao giờ cũng trả lời không để cô vui, dù mỗi ngày trên con đường tôi qua, biết bao người đã chửi mắng tôi, đã bao người xô tôi ngả.

Hôm nay, nếu cô tôi còn sống chắc là cô vui lắm. Thằng cháu mồ côi mười ba tuổi của cô đã sống sót, đã có gia đình, vợ và ba cháu rất ngoan. Giấc mơ thời niên thiếu tuy vẫn còn xa, vẫn chưa thành sự thật nhưng cháu của cô đã làm được một điều quan trọng mà cô dặn dò: “Hy vọng để mà sống, cố gắng để vươn lên, học để làm người có ích”. Nhánh lau non bên bờ sông Thu Bồn ngày xưa, còn đứng được sau cơn bão lửa triền miên dài hơn một phần tư thế kỷ.

Ba mươi lăm năm sau. Tôi đã tìm ra và đã bắt được kẻ đã chôn sống anh Hoành. Tôi cũng đã tìm ra và bắt được kẻ đã bắn viên đại pháo vào căn nhà tranh thân yêu của tôi trong đêm tháng Chạp năm 1968. Tôi đã tìm ra và bắt được kẻ đã đặt trái mìn trên con đường dẫn lên chợ Quận Duy Xuyên ngày trước.

Tôi đã tìm ra. Vâng, nhưng tôi cũng đã thả họ đi.

Tôi thả người du kích đặt mìn và những người đã bắn viên đại pháo đi chỉ vì họ không phải là chính phạm. Chính phạm đã gây ra bao nhiêu thảm họa cho đất nước tôi, không phải từ những bàn tay, những viên đại pháo, những bẫy mìn, mảnh đạn nhưng là những tư tưởng phản dân tộc, nô lệ, vong bản, ngoại lai độc hại, bằng nhiều ngã, nhiều thời điểm, nhiều cơ hội đã cấy vào con người Việt Nam, xâm nhập vào suy nghĩ Việt Nam và qua đó, điều khiển hành động của một số người Việt Nam, nhất thời, có quyền lực trong tay. Những nọc độc văn hóa đó gần một thế kỷ qua đã biến bao nhiêu con người Việt Nam thật thà chơn chất thành những kẻ sát nhân, biến tâm hồn Việt Nam đầy ắp thi ca, với những ngày mới lớn “rất đậm hương và rộn tiếng chim” để có thể một ngày, nhẫn tâm hạ bút “giết, giết nữa bàn tay không phút nghỉ”.

Đất nước, vì thế, hơn bao giờ hết đang đối diện với một nhu cầu cách mạng từ căn bản. Không phải cách mạng xã hội chủ nghĩa hay kinh tế thị trường. Không phải cách mạng khoa học kỹ thuật hay kinh tế chính trị mà là cách mạng con người. Phục hưng Việt Nam phải bắt đầu từ việc phục hưng con người Việt Nam.

Tôi cũng đã thả những người siết dây anh Hoành đi, bởi vì, trong lúc sợi dây oan nghiệt phải tháo từ cổ anh Hoành nhưng cũng không nên dùng nó để buộc vào cổ người khác, và càng không nên buộc vào cổ con cháu họ. Tôi không thể nhân danh việc trả thù cho cái chết oan ức của anh Hoành, nhưng thật ra chỉ để trút cơn thù hận của riêng mình lên thế hệ hôm nay.

Đạo Phật là đạo của tình thương, bao dung và tha thứ. Lời thầy dạy ngày xưa: “Tinh thần Phật Giáo giống như tấm lòng của mẹ đất, chịu đựng bao sức nặng và lỗi lầm của nhân loại mà không hề than van, oán trách, vẫn đem đến cho đời niềm vui và sức sống”. Ba mươi lăm năm, những bài học đầu tiên đó còn in đậm trong tâm hồn tôi. Anh Hoành đã trọn nghiệp. Dân tộc đã trọn nghiệp. Bóng tối của lạc hậu, rẽ chia, thù ghét nhỏ nhen phải được xua tan bằng ánh sáng của cảm thông và đối thoại trong một tinh thần tương kính trên một đất nước Việt Nam văn minh và khai phóng.

Những con sông Gianh trong lòng người phải cần được lấp lại. Lấp lại bằng cảm thông chứ không phải bằng những bãi xương khô, những cánh đồng nhuộm máu. Người Việt Nam cần được nghe tiếng chuông chùa nhẹ đưa, tương tự như cũng cần được nghe tiếng chuông nhà thờ thánh thoát. Hãy trao cho các thế hệ tương lai Việt Nam một cơ hội để được sống trong hòa thuận, bao dung, tha thứ. Tại sao phải mang theo một gánh nặng của phân hóa, rẽ chia, hoài nghi, mặc cảm, trong lúc dân tộc Việt Nam đang cần một đôi cánh để bay cao, để vượt qua ao hồ quá khứ, để mong đuổi kịp nhân loại, đã nhiều thế kỷ, tiến xa về phía trước?

One thought on “Chính Luận Trần Trung Đạo và “Dưới Bóng Đa Chùa Viên Giác” – Tống Mai

  1. Cám ơn Mai đã gởi cho đọc một bài viết hay, biết TTĐạo xưa nay ít nhiều qua những tham luận chính trị, thi thoảng đọc được vài bài thơ của tác giả. Không ngờ ông viết văn xuôi hấp dẫn người đọc quá sức.

    Tôi đã tìm ra.
    Vâng, nhưng tôi cũng đã thả họ đi.


    và là người biết độ lượng, bao dung.
    LCHoằng

Leave a Reply