Những Ngày Tháng Cũ – Hàn Lan Anh

Mùa Xuân năm nầy trở về muộn, cuối tháng hai rồi, nhưng những đợt lạnh và mưa lớn vẫn còn tràn ngập thung lũng. Lẻ ra, giờ đây, những cành đào đã trích nụ và những cành lê trắng dọc đường đã nở hoa chào đón Tết Nguyên đán.

Mưa từng đợt dài, tiếng róc rách đều đặn trên mái cọng với hơi ẩm phủ kín các mặt kính làm lòng mình chùng xuống, mưa thường đem theo những nỗi buồn man mác. Ngồi đây mà nhớ những ngày mùa Đông của Huế, nhớ những ngày trung học với những chiều mưa tầm tả, đi qua cầu Trường Tiền lộng gió; cái ướt át năm xưa có chút thích thú của tuổi học trò, nhớ những ngày tháng vui chơi với bạn bè, ngây thơ và chỉ biết học mà thôi. Những năm ấy, đời sống mình thật là đơn giản, vô tư. Lo âu chỉ đến khi nghĩ tới các kỳ thi tú tài.
Xứ Huế trầm mặc, nên bản chất học sinh cũng dịu hiền, ít có những gì có tính sôi nỗi, từ cách ăn mặc cho đến lối sống. Tuổi hồng, tuổi ngọc lớn lên cùng với nhịp chiến tranh, đã xót xa nhận thấy sự chia lià và bất trắc, những chiều trên đường về, bắt gặp những chiếc GMC chạy ngược từ phía Mang Cá mang theo các quan tài phủ lá cờ và những người đàn bà trẻ than khóc, tang tóc, bất hạnh là đó. Tôi sống vô tư trong sự bảo bọc của Mẹ Cha, chỉ biết ăn và học mà thôi. Hồi tưởng lại, chỉ có đoàn anh Thiều đã đưa tôi vào đời sống thật của Huế.

Ngoài trời mưa dứt hạt, các ngọn phong hết lá trơ cành, trên sân cỏ, những chiếc lá mục bay bay theo cơn gió nhẹ, lao xao trong tâm hồn về những ngày sinh hoạt cũ mà thường bắt đầu bằng một buổi sáng cuối tuần và chấm dứt sau buổi trưa họp mặt tại Chùa.

Từ sáng sớm, anh chị em tập họp tại sân nhà anh Thiều, phân chia thành từng nhóm, nhận những túi gạo, đạp xe mang đến tận nơi giúp đở người nghèo. Nhóm chúng tôi thường đi về phía Bờ hồ, đôi khi đi về Bãi dâu. Tới nơi, anh chị em đi tìm người nhận, tiếng lao xao thăm hỏi. Sau khi phân phát gạo, chúng tôi tập họp các em bé lại, cắt tóc, cắt móng tay hay dạy bài học vở lòng i tờ. Những tia nắng đầu ngày, loáng thoáng trên những khuôn mặt ngây thơ, chăm chú học đánh vần của các em trông rất đáng yêu.
Anh Thiều đã đưa xả hội vào học đường. Anh tổ chức những lớp học thêm cho học sinh về Toán, Lý Hóa  và đồng thời nói chuyện về những công tác từ thiện của anh. Hoạt đông nầy có tính tự nguyện. Anh tự bỏ tiền túi để mua gạo cho người nghèo và nhóm của anh còn bỏ nhiều công sức để tìm đến đúng đối tượng. Các anh đã phải đi nhiều nơi trong thành phố Huế, tìm hiểu, nhận biết và đánh giá những người thật nghèo vì khả năng tài chánh của anh có giới hạn
Sau buổi sáng làm công tác, xế trưa cả đoàn đạp xe lên dốc Nam Giao để tới chùa ăn trưa, thường lúc đó trời đã vào Thu nhưng những cơn nắng Hạ sót lại vẫn còn quá gắt. Hai hàng cây xanh chạy dọc đại học xá không đủ làm dịu không khí, mồ hôi lấm tấm trên lưng áo, vậy mà còn một quãng đường nữa mới tới chùa Quảng Tế.

Cảnh chùa buổi trưa thật là tỉnh mịch. Ánh nắng hắt vào điện thờ làm lung linh những tượng Phật mạ vàng. Cây cảnh trước hiên chùa được cắt tỉa cẩn thận, đầy lá xanh, đâu đây tiếng thông reo trong gió. Hàng hiên đang vắng, thập thò vài chú tiểu nhìn đoàn khách trẻ, cười nói vui vẻ bước vào sân. Một bữa ăn đạm bạc, chỉ có tương chao, đậu phụ và rau luộc nhưng thật là ngon miệng. Đây là một ngày sinh hoạt tiêu biểu, một ngày tràn đầy tình thương, thương người nghèo khó, tình anh chị em trong nhóm và cứ như thế, nhóm càng ngày càng đông.

Anh Thiều là một giảng sư Đại học Khoa học Huế, gấy ốm, hơi xanh có lẻ vì bịnh suyễn anh đã mang từ ngày còn nhỏ, nhưng anh có nụ cười tươi, thân thiện và lối ăn nói nhỏ nhẹ. Anh sống tĩnh lặng, trầm mặc, mọi chuyện coi như phù du, nhưng cách giải quyết công việc lại nhanh chóng và mang tính hài hước. Anh đạp chiếc xe cọc cạch đi làm, để âm thầm dành tiền mua gạo giúp ngưới nghèo.

Tôi gia nhập nhóm anh Thiều vào những ngày đầu của các năm trung học đệ nhị cấp, đó là những năm tháng thích thú của tuổi học trò. Ngày đó, những bước chân con gái của các nàng Đồng Khánh đả có chút ngập ngừng vì ánh mắt Quốc Học. Những sớm mai mù sương đến trường trên con đường Lê Lợi ngập đầy áo trắng. Những chiều tan trường rộn rã bước chân chim. Tôi vẫn còn nhớ lớp đệ nhị năm ấy, giáo sư hướng dẫn là cô Thanh, cô mới đổi từ trường Nguyễn Hoàng ở Quảng Trị vào. Cô đẹp với cặp mắt trong sáng, môi hồng, cổ luôn đeo chuỗi ngọc trai. Cô dạy Pháp văn , tận tâm, giọng đọc rất hay. Chúng tôi thường so sánh sự thanh khiết của cô với bà hoàng Grace Kelly. Cô tập văn nghệ cho lớp, một điệu múa gồm 10 cô gái nhỏ, gồm A. Cầm, D. Kim, T. Thủy, X. Mai, M. Thu, Lài, L. Anh… Màn trình diển khá hay, từng được đài truyền hình Huế mời thâu hình, nhạc nền là một bản nhạc Trung Hoa nói về đôi lứa yêu nhau trong mùa Xuân, ai đó lại cắc cớ dịch ra là “Hẹn ngày tái ngộ” làm mục diễn của lớp tôi luôn bị đặt vào cuối chương trình. Đã mấy mươi năm trôi qua, điệp khúc ngân nga của thủa học trò vẫn còn vang vọng trong tâm tưởng.

Cũng trong năm đó vào dịp lể hai bà Trưng, cô Quế Hương và cô Bích Đào đi vào đoàn đệ Nhị để chọn “binh lính” cho buổi diển hành. L. Anh và T. Thủy bên ban C được chọn làm nữ tướng. Ngày diển hành cô Thanh vào lớp sớm để trang điểm, sau một hồi tô son vẻ phấn, nhìn vào gương thì tôi hết hồn vì cặp lông mày bị tô quá đậm. Tỏ ý phụng phịu thì cô la rằng, nữ tướng như vậy mới oai. Lúc xe hoa đi qua cầu Tràng Tiền, thoáng thấy bóng ai đi ngược cuối cầu, vội vàng cúi gầm mặt đề che cặp lông mày “nử tướng”!.

Môn Toán được học với thầy Châu trọng Ngô, thầy dạy rất hay với lối giảng dể hiểu. Lý Hóa được học với cô Mai Hương, môn học khó và khô khan, trái ngược với sự dịu dàng, đằm thắm của cô. Cô luôn khuyên nhủ học trò cố gắng để qua được kỳ thi bán phần. Dáng cô hiền lành mộc mạc, đặc biệt cô có mang chiếc vòng “mọi” ở cổ tay, lủ chúng tôi vẫn thường kháo nhau rằng, phải chăng sự đơn sơ, thanh thoát nầy đã làm mềm lòng thầy Hoan.
Lên đệ Nhất và là chị cả của trường, chúng tôi hãnh diện với bản tên thêu màu tím. Ngoài môn vạn vật với cuốn sách dày như cuốn tự điển Larousse học với thầy Đôn, lần đầu tiên chúng tôi làm quen với môn Triết học, giáo sư phụ trách là cô Lê Đình Phòng, cô dạy Đạo đức học, Tâm lý học và chao ơi môn Luận lý học thật là khó nuốt. Giờ học mang một vẻ ảm đạm như màu áo đen, áo lam của cô. Cô để tang thầy đã mất trong biến cố Mậu Thân. Tuy vây bọn tôi vẫn thấy mình như những nhà triết nhân nhuốm màu hiện sinh, những chiều tìm đến nhà sách Ưng Hạ mua cho được tác phẩm “Buồn ơi chào mi” của  Francoise Sagan hay nặng ký hơn là cuốn “Buồn nôn” của Jean Paul Sartre để hững hờ trước giỏ xe. Ôi tuổi trẻ !

Chúng tôi cũng còn được học với các thầy trẻ như thầy Toản môn Sử Địa, thầy Tuyến môn Lý Hóa, thầy Hạnh dạy Anh văn. Các thầy đem lại một lối giảng dạy mới, vui vẻ và đầy sinh động. Thầy Hạnh hình như muốn tỏ ra nghiêm nghị để kiểm soát lủ học trò rắn mắt, mùa Đông xứ Huế, rét mướt, lạnh cắt da, gió thổi ào ạt, vậy mà mỗi lần vào lớp, thầy thường mở tung các cửa sổ, cho dù lủ học trò rú lên nhưng thầy vẫn làm mặt lạnh như tiền.

Các Cô, các Thầy đã để lại nhiều kỷ niệm đẹp trên nhiều lứa học trò, ngày nay cho dù lang bạc khắp nơi, vẫn luôn luôn nhớ đến ngôi trường cũ. Hằng năm đã có những ngày Đồng Khánh- Quốc Học được tổ chức từ California cho đến Texas nhằm vinh danh các thầy cô và qua nhóm Phượng Vỹ , các học trò cũ vui vẻ góp tay giúp đở những thân hửu của trường còn ở lại và kém may mắn.

Nơi đây, trên xứ người, những hội từ thiện cũng thường tổ chức những buổi lể hoành tráng để tri ân các nhà hảo tâm, mỗi khi như thế, lòng tôi lại nhớ đến anh Thiều. Anh Thiều chẳng bao giờ là một nhân vật chính trị,. anh không cần hào quang. Bây giờ tại Huế cũng có những tổ chức từ thiện giúp đở người nghèo, nhưng phần lớn dựa vào sự tài trợ từ bên ngoài, chứ không mấy ai tự lực như anh. Những ngày tháng sau biến cố 1975, gia đình anh Thiều cũng sa sút như tất cả mọi gia đình khác, một cơ chế xã hội mới cho rằng mọi người đều bình đẳng nên ai cũng nghèo như ai, cả thành phố ăn độn bo bo thì gạo đâu mà chia xẻ, nên đoàn anh Thiều cũng tan rã từ đó. Ngày nghe tin anh mất, lòng thật ngậm ngùi và tiếc thương cho anh. Nếu vận nước không có gì xẩy ra thì chắc anh sẽ tiếp tục làm công việc của anh cho đến khi nằm xuống. Nhưng thật là đau xót, khi ước mơ không thành. Tuy nhiên, với phước báu mà anh tích trử được, thuyền Từ sẽ đưa anh đi thật xa, đến tận chân Trời lạc quốc.
Hàn Lan Anh

Leave a Reply