Những Nẻo Đường Nhận Thức – Nguyễn Tường Bách

Oct 8, 2014 (TM)

Trần Đại Lộc góp nhặt và giới thiệu bài thuyết trình của Nguyễn Tường Bách trong buổi tọa đàm ở Đại Học Hoa Sen, Việt Nam ngày 11, tháng 12, 2013

* * *

Những Nẻo Đường Nhận Thức

Nhận thức bằng cách nghe

Nhận thức bằng cách thấy

Nhận thức bằng cách quan sát

Nhận thức bằng suy luận tư duy

Nhận thức bằng cách buông bỏ

—-

Kính thưa Ban lãnh đạo Đại học Hoa Sen,

Kính thưa Quí vị tu sĩ,

Kính thưa quí vị thân hữu, các anh các chị,

Các bạn sinh viên thân mến,

Trước hết cho phép tôi được cám ơn DH Hoa Sen đã mời đến thăm và trò chuyện với quí vị và các bạn. Thật là hân hạnh cho tôi được nói chuyện và chia xẻ trước các bạn sinh viên, trong khung cảnh của DH Hoa Sen. Tuy ở xa tôi vẫn biết Hoa Sen là một cơ sở giáo dục có uy tín về chất lượng giảng dạy và cũng biết rõ nỗ lực của quí vị trong xã hội, trên phương diện văn hóa, nhất là trong giới trẻ. Trong khung cảnh hiện nay của Việt Nam, thiện chí to lớn của quí vị là niềm tin cho chúng tôi, Việt kiều sống ở nước ngoài.

Được mời đến thăm DH Hoa Sen, thâm tâm tôi mong chỉ được ngồi chơi, với bè bạn đã quen và mới quen, với các bạn sinh viên trẻ trong lứa tuổi đôi mươi, nói dăm điều ba chuyện, rồi lắng nghe thắc mắc và thiết tha của các bạn trẻ, và tùy chuyện mà chia xẻ vài kinh nghiệm sống, học tập và làm việc.

Thế nhưng không ngờ đến DH Hoa Sen trong một khung cảnh nghiêm trang thế này, tôi cảm thấy có một lòng trân trọng sâu xa đối với tất cả thính giả. Tôi tự hỏi mình sẽ nói điều gì, nói như thế nào cho xứng đáng.

Nhiều bè bạn trong nước thật lòng hỏi tôi: Anh sống đã quá tuổi 65, xem như sống trong hai nền văn hóa Đông Tây, biết chút khoa học, hiểu chút tôn giáo, tiếp xúc với nhiều giới, nhiều thành phần, nhiều dân tộc. Khoa học gia có, triết gia có, tu sĩ có, cái gì cũng chen vô xem thử, đi qua đi về đi ngang đi dọc. Thế thì tâm anh có bị “xé lẻ”, nhận thức anh có bị mâu thuẫn hay không? Hay may mắn có đúc kết được gì không, nói ra nghe thử!

Nhận lời các bạn, thế nên hôm nay tôi liều chọn một đề tài khá bao quát, đầu đề của nó là

“Những nẻo đường nhận thức”. Đầu đề nghe ra quá to tát, nhưng thực ra tôi chỉ nói về những kinh nghiệm và nhận thức của riêng mình. Nó sẽ có tính chất chủ quan và có thể khác lạ, thậm chí kỳ cục so với thông thường. Tôi không có một chút ý định nào thuyết phục người nghe vì phần lớn là các trải nghiệm trong tâm. Tôi cũng thấy thật là khó khăn khi diễn bày những cảm nhận trong tâm bằng ngôn ngữ.

Và cũng sợ mình sẽ hồi hộp nói đầu quên đuôi, tôi xin viết trước trên giấy để trình bày với quí vị và các bạn cho chắc ăn.

Nhận thức là hoạt động suốt cả đời chúng ta, tôi thấy có nhiều chiều kích, hay nhiều “nẻo” nhận thức.

1. Nhận thức bằng cách nghe

Nghe là cách học vấn và nhận thức cổ điển nhất của loài người. Trong thời kỳ mà chữ viết chưa hình thành, người ta chỉ học bằng cách nghe. Khoảng hai ba ngàn năm trước tại phương Đông, kinh Vệ Đà hay các bài giảng của Phật Thích-ca tại Ấn Độ đều là những bài thuyết giảng cho người đến nghe. Tại Hy Lạp phương tây thì những nhà hiền triết như Plato, Aristotle đều thuyết giảng cho người tìm đến nghe chuyện.

Thế nên “nghe” là cách nhận thức cổ điển và xem ra hiệu quả nhất của con người. Ở đây ta hiểu “nghe” là trực tiếp nghe lời nói của vị thầy, thông qua ngôn ngữ mà lĩnh hội những điều vị ấy nói. Không cần dài lời, cách học hiệu quả nhất là trực tiếp đến với thầy, nghe giảng và thảo luận với vị đó.

Nghe là nghe âm thanh, tiếng nói từ bên ngoài. Qua tai, âm thanh tiếng nói từ bên ngoài vào tâm ta rồi ý thức dựa trên đó mà nhận thức vật ở bên ngoài. Đó là quá trình thông thường của nghe.

Nhưng cũng có khi ta nghe bên trong, nghe

vận động bên trong tâm.

ong chơi râu tóc bạc phơ/Còn

nghe đắm đuối vần thơ yêu người

Người đi ở cuối chân trời/Có

nghe tình mộng nửa đời dằng dai… (thơ Bùi Giáng)

Nghe của Bùi Giáng là tâm nghe tâm. Thế nên “nghe” không chỉ là lỗ tai nghe âm thanh. Tâm nghe tâm là tâm tự lắng nghe chính mình, hay chính xác hơn là nghe những diễn biến trong mình. Nói vậy chứ không phải đơn giản vì “diễn biến trong tâm” thường kéo dẫn chúng ta đi theo mà ta không hề biết. “Diễn biến trong tâm” chính là tâm chúng ta. Hình ảnh trong gương chính là tấm gương. Tâm nghe tâm là tự tách mình đừng bên dòng chảy của tâm và lắng nghe nó. Thế nên Bùi Giáng không hề điên mà rất tỉnh vì tỉnh táo mới nghe được diễn biến trong tâm.

Thế nhưng còn một dạng khác nữa của nghe. Đó là một dạng

thụ động của nghe. Nghe một cách thụ động, không dụng công nghiêng tai nghe cái này hay cái khác, bên trong hay bên ngoài. Không dụng công nhưng chú ý, chú ý nhưng không dụng công. Chú ý trống rỗng. “Trống rỗng” ở đây tức là thụ động, chú ý nhưng không có đối tượng chú ý. Thụ động để cho cái gì đến thì cứ đến, không phân biệt trong ngoài, không phán đoán đúng sai, thiện ác, không để lôi kéo dẫn dắt, chỉ giữ chú ý thuần túy. Nghe nhưng không trụ vào đối tượng nghe, chỉ thuần túy ghi nhận.

Thực sự có dạng đó của nghe. Khi đó thì hầu như cũng không có người nghe, chỉ có một cái nghe đang vận hành. Khi đó thì tính nghe đồng nghĩa với tính biết. Khi đó thì những cái được nghe, hay chính xác hơn là những cái được biết, dường như “bóc tách” khỏi tâm ta và lơ lửng trong không gian rỗng rang của tâm.

2. Nhận thức bằng cái thấy

Thưa quí vị và các bạn, cái mà chúng ta thấy là cái gì của sự vật?

Hãy xem một cái quạt máy. Quạt máy khi đứng yên chỉ có 3 cánh quạt, ở giữa cánh quạt là không gian trống rỗng. Khi quạt quay nhanh thì không còn ba cánh quạt nữa mà chúng đã biến thành một cái đĩa tròn dày đặc liên tục. Do quạt quay quá nhanh nên đĩa tròn xuất hiện. Không những đĩa tròn xuất hiện mà nó còn có tác dụng như một chiếc đĩa thật, tức là ta không thể đút ngón tay xuyên qua nó. Ném trái bóng bàn vào quạt, bóng sẽ dội ra thật.

Nguyên tử của vật chất cũng vậy. Nguyên tử thì trống rỗng hơn trăm vạn lần cây quạt ba cánh của chúng ta. Nguyên tử có nhân và âm điện tử quay quanh. Kích thước nguyên tử to 100.000 lần gấp hạt nhân, ở giữa trống rỗng. Nó trống rỗng đến nỗi nếu hạt nhân to bằng trái bóng đá thì nguyên tử to hơn cả sân vận động. Khi đó thì hạt nhân là trái bóng nằm giữa sân còn âm điện tử chỉ là loe ngoe vài chục khán giả ngồi trên khán đài xa lắc trong một trận bóng đá dở. Nguyên tử trống rỗng và buồn tẻ như vậy nhưng nó xây dựng nên toàn thế giới vật chất.

Nguyên tử trống rỗng như thế sao ta không đi xuyên qua cánh cửa, sao chiếc ghế ta ngồi đặc cứng, sao khắp nơi đều hiện lên vật thể chắc nịch. Lý do là âm điện tử, một trong các hạt cơ bản không chịu đứng yên, chúng quay và quay rất nhanh, nhanh hơn cánh quạt máy nhiều. mỗi giây chúng chạy khoảng 900km. Thế nên cánh quạt quanh nhanh làm ba cánh biến thành đĩa tròn, có tác dụng như chiếc đĩa tròn. Còn do các hạt của nguyên tử quay nhanh mà hiện thành thế giới thiên hình vạn trạng, cứng chắc, dày đặc. Do đó chúng ta ngồi đây mà không lọt tỏm xuống tầng dưới.

Nghĩ thế nên thú thật tôi không bỏ được ý tưởng cho rằng thế giới này là ảo. Về chiếc quạt máy, hỏi có đĩa tròn thật không, tôi sẽ nói, có nhưng không thực có. Không có nhưng “coi như có”. Cúp điện thì đĩa biến mất. Lại nữa, đĩa chỉ có với tôi, nhưng đĩa không có đối với một cái máy chụp ảnh vận tốc nhanh. Cái camera sẽ nói đâu có đĩa tròn, chỉ có ba cánh. Cũng như thế, những gì mà ta thấy trong thiên nhiên chỉ là sự vật hiện tướng lên thế thôi. Chưa hết, chúng không chỉ hiện tướng lên một cách mờ ảo, mà chúng tác dụng cũng rất mạnh mẽ. Đó là cái dụng của sự vật. Quạt không chỉ hiện tướng đĩa tròn, nó còn ngăn vật lọt qua, cho gió mát.

Dụng của đất nước gió lửa mạnh mẽ thế nào ai cũng biết. Toàn thể tiến bộ khoa học kỹ thuật đều là sử dụng cái dụng của sự vật. Nước nâng được thuyền nên qua đó người ta chế tạo ra tàu bè. Nước cũng có sức nặng đáng kể làm đắm tàu bè nên nhờ đó người ta chế tạo tàu ngầm. Nhưng Dụng của nước không bất biến, khi nước sôi lên thành hơi thì nước vô dụng trong chuyện tàu bè, nhưng người ta lại dùng nó làm quay tuốc-bin sản xuất điện.

Nếu hỏi thế thì cái thể đích thực của đĩa tròn là gì, tôi trả lời nhanh là ba cánh. Nhưng hỏi cái thể tính đích thực của thiên nhiên đất nước gió lửa là gì thì hầu như không ai trả lời được. Ta không thể biết được thể tính sự vật. Vật chất chỉ hiện tướng lên thế thôi. Nhưng điều này còn có một cái lắc léo nữa: nó hiện tướng không phải cho ai cũng như nhau, nó không hề khách quan mà nó hiện tướng tùy theo “trình độ” của người nhìn nó. Đối với người điếc thì thế giới toàn màu sắc và sự lặng yên, đối với người mù thì thế giới đầy âm thanh và một màu đen, đối với người mù màu thì thế giới chỉ hai màu đen trắng, đối với loài chó, loài có khứu giác nhạy bén thì thế giới nhấp nhô toàn cả mùi, đối với chiếc camera thì đĩa tròn là ba cánh quạt. Thậm chí khi ta di chuyển nhanh thì không gian thời gian đã khác, ta bay thật nhanh thì thế giới hiện ra méo xẹo, cô hoa hậu sẽ không còn là hoa hậu nữa.

Thế thì thế giới hiện lên với ta tùy theo khả năng mức độ của ta. Heisenberg, nhà vật lý lượng tử cũng nói đại ý “thiên nhiên là câu trả lời trước sự vấn hỏi của con người”. Ta thắc mắc thế nào thì thiên nhiên đáp lại theo cách hỏi của ta. Thế nên cái thấy của chúng ta có hai điều đáng nhớ, một là điều ta thấy chỉ là tướng trạng của sự vật, không phải thể tính thực của nó; hai là nó mang tính chất, mang chữ ký của người ngắm nhìn nó.

Chúng ta ít khi nhớ đến hai tính chất đó, tin rằng thế giới bên ngoài là khách quan và là thực như thế. Hầu như tất cả chúng ta là nhà “duy thực”.

Nếu có ai ngồi xuống lặng yên, chú ý quan sát sự vật, với tâm rỗng rang không dụng ý, không ép uổng, hoàn toàn thụ động trong sự chú ý trống rỗng, không trụ vào đối tượng như đã nói trên trong phần nghe, người đó sẽ tiến đến một trạng thái lạ. Đó là một tình trạng không có người thấy mà một cái thấy chiếu hiện, cái thấy đó bao gồm cả người thấy lẫn vật bị thấy. Người đó vẫn thấy sự vật như trước, nhưng trong tâm sinh ra một cảm nhận. Đó là cái thấy này hiện lên như là một sự tương tác của vật bên ngoài và tâm bên trong. Sự tương tác này sinh ra một cái thấy, cái thấy đó chiếu lên thành cảnh, bao gồm cả người thấy và vật bị thấy. Như một giấc chiêm bao chiếu lên thành cảnh, gồm cả người và vật như trên sân khấu của tâm.

3. Nhận thức bằng cách quan sát (thân và tâm)

Nhận thức bằng cách nghe, nhận thức bằng cách thấy chính là “mở” hai giác quan tai và mắt, cho hai cái nghe và cái thấy vận hành. Qua Nghe và Thấy hầu như toàn thể thế giới hiện ra quanh ta.

Bên trên tôi có nói thế giới hiện lên theo mức độ của người thấy. Thế thì bây giờ hãy thử quan sát chính mình, quan sát chính thân tâm mình.

Thân chúng ta là gì? Là một tập hợp to lớn, vận hành một cách tự động, không cần chúng ta lưu tâm đến. Thân chúng ta trung bình trong 30 giây thực hiện những thao tác sau đây: tim đập 36 lần, thở ra vào 8 lần, sản xuất 72 triệu hồng huyết cầu, máu chảy một đoạn đường 7km, sản xuất 100Watt năng lượng. Thân của chúng ta quả đang vận hành và vận hành với một công suất kinh khủng. Chúng ta tưởng mình làm chủ thân nhưng thật ra rất hạn chế. Đúng ra là, các bộ phận của thân tự mình thao tác, trong một chương trình nhất định.

Còn tâm chúng ta vận hành như thế nào? Muốn biết cũng không đơn giản. Cái “nghe” của Bùi Giáng là tâm nghe tâm, không phải là việc dễ làm.

Thế nhưng hãy ngồi xuống, thật lòng xem điều gì xảy ra trong tâm, không chờ đợi mong cầu bất cứ điều gì, nhất là đừng mong một phép lạ, hình ảnh hay quyền năng gì sẽ xảy ra. Đừng ép uổng tâm mình phải yên lặng, rỗng rang, vô niệm hay bất cứ điều gì. Đừng nghĩ đến thành công hay thất bại. Cứ tỉnh táo quan sát xem ra sao.

Đầu tiên hầu như ai cũng rơi vào một sự lộn xộn hỗn loạn trong tâm. Thường là hình ảnh của quá khứ gần, của tối hôm qua, sáng hôm kia trở về lộn xộn. Chúng lôi kéo ta đi cả phút, cả chục phút. Ta giật mình thấy ra mình chỉ ngồi suy nghĩ mông lung. Lát sau nữa thì lưng bắt đầu đau, chân bắt đầu nhức và ta sẽ sớm chấm dứt cái bài quan sát tâm.

Thế nhưng nếu kiên trì, nếu tỉnh táo và chú ý, thường thì phải sau vài tháng hay vài năm, ta sẽ nhận ra một điều đơn giản trong tâm. Đó là có một dòng hoạt động tâm lý cứ trôi chảy liên tục trong ta. Ban đầu có lẫn vui buồn thương nhớ, về sau cảm xúc ít đi nhưng tâm luôn luôn có hình ảnh, có âm thanh. Đặc biệt trong âm ta luôn luôn có lời, khi thì độc thoại, khi thì đối qua đáp lại. Luôn luôn có lời nói thầm trong tâm, tôi tạm gọi là “tâm ngôn”.

Nếu một người luôn luôn nói lảm nhảm ta gọi hắn là điên. Nhưng thực tế chúng ta cũng luôn luôn nói lảm nhảm, chỉ khác với người điên là không nói ra thành tiếng. Các hình ảnh, âm thanh đó trôi chảy như một dòng không bao giờ dứt. Đặc biệt nó không nằm dưới sự điều khiển của ta, nó “tự động” vận hành, như tim phổi chúng ta tự vận hành không cần ta lưu tâm đến. Ai không tin tâm tự vận hành thì hãy nhớ những đêm mất ngủ, ta chỉ mong tâm đừng nói nữa nhưng nó vẫn cứ nói. Và nếu may ta rơi vào giấc ngủ, tâm vẫn tiếp tục nói, sinh ra những giấc mơ.

Thế là tâm nói 24/24. Đừng nghĩ tâm chỉ nói những điều tào lao. Nó cũng rất hay nói những điều cao đẹp, thánh thiện. Tâm ngôn là một tên gọi khác của tư tưởng. Dù là tư tưởng cao đẹp hay tiếng đối đáp liên tục thường tình của nội tâm, ta nhận ra một điều giản đơn, đó là cái tôi không điều khiển được tâm mình, kể cả khi ngồi thiền. Tâm dặn tâm những điều cao đẹp cũng là tâm ngôn. Khi ngồi xuống tự nhủ “hãy lặng yên” thì lời đó cũng chính là tâm ngôn.

Nếu tỉnh táo kiên trì quan sát thêm vài năm nữa, lúc này thì 10 người đã bỏ cuộc hết 8, 9, ta thấy một điều lạ. Đó là phát hiện ra rằng những điều trong tâm, vui buồn thương nhớ, hình ảnh âm thanh, chúng đến và đi không để lại dấu vết nào cả. Ví như đốt một cây diêm. Một ngọn lửa phát ra. Chục giây sau ngọn lửa tàn. Trước khi ngọn lửa phát ra thì không có lửa, sau đó khi tàn cũng không còn lửa. Không thể nói lửa từ đâu đến và đi về đâu. Lửa chỉ là một hiện tượng nhất thời, đủ điều kiện thì hiện ra. Cũng như thế đám mây trên bầu trời cũng là một hiện tượng nhất thời. Toàn thể hình ảnh và âm thanh trong tâm cũng là những hiện tượng nhất thời. Chúng không đến từ đâu và không đi về đâu. Có vị thiền sư nào đó nói: “chim hạc bay qua, bầu trời lại yên tĩnh không dấu vết”. Câu nói nghe thô sơ vậy mà mô tả tuyệt diệu trạng thái của tâm. Trước đó là không, sau đó là không. Đây chính là yếu tính của Tính Không.

Thêm vài năm nữa, lúc này đã gần chục năm trôi qua, lúc tâm đã quen tỉnh giác, ta có thể bắt gặp từng khoảnh khắc của cái tức thời thì có cái lạ nữa sinh ra. Khi đó không có tâm nữa, không có tâm ngôn, không có tư tưởng, không có độc thoại hay đối qua đáp lại mà kinh sách gọi là “không tầm không tứ” thì chỉ còn ánh sáng, âm thanh và hình ảnh. Cảm nhận của thân cũng biến mất, như người vô hình. Cái trống rỗng trong tâm như khoảng trống giữa hai đồ vật kê trong phòng. Như một gian phòng vốn trống rỗng nhưng ta quá nhiều đồ đạc kê chật trong phòng, cái này san sát cái kia. Nhưng khi lấy đồ đi thì khoảng trống xuất hiện. Khi vắng bặt tâm ngôn thì tâm rỗng rang xuất hiện.

Chắc các bạn hiểu tôi nói gì rồi. Đó là tâm nguyên thủy của ta trống rỗng. Âm thanh, hình ảnh, tâm ngôn trong tâm ví như mây kéo đầy trời, che bầu trời xanh. Mây kéo suốt đời ta. Mây tạo hình thành cái vui cái buồn, cái thiện cái ác, ta chạy theo chúng. Mây còn tạo ra một cái đặc biệt, cái tôi. Cái tôi này cũng như mây được tạo tác ra thôi, nhưng nó tự hào đứng lên và nói ta là chủ các đám mây, cho rằng tất cả các đám mây thuộc về hắn cả.

Thực hành thêm vài năm nữa và nếu may mắn, trong tâm xuất hiện một tình trạng lạ. Đó là tâm tự biết mình xưa nay vẫn có, nhưng mình hoàn toàn không có tính chất gì cả. Vừa có vừa không có. Có nhưng trống rỗng, trống rỗng nhưng sẵn sàng hiện tướng. Còn những thứ như âm thanh, hình ảnh, tư tưởng, ký ức, cảm xúc… trong tâm đều là thứ tạm thời xuất hiện. Chúng xem ra có vẻ ghê gớm, chắc nịch, có tác động to lớn khủng khiếp, nhưng khi hết hơi thì chúng không để lại dấu vết gì cả. Chúng chỉ hiện tướng và phát tác dụng, như quạt quay nhanh thì sinh chiếc đĩa tròn và cho gió mát. Lửa sinh ra thì phát sáng và sinh nhiệt, nhưng cúp điện thì đĩa tròn biến mất, hết củi thì ngọn lửa tàn. Sau đó là không có gì.

Tình trạng rỗng rang này của tâm đòi hỏi hành giả chú ý vào cái tích tắc tức thời, quan sát ngay tại đó. Nhưng hành động quan sát này là một hành động hoàn toàn thụ động. Chú ý nhưng thụ động, thụ động nhưng chú ý. Ta gọi là chú ý trống rỗng, chú ý nhưng không có đối tượng. Ngay từ “chú ý” cũng làm ta sinh lòng chủ động, nên gọi là “ghi nhận” một cách thụ động thì đúng hơn. Nếu ta chủ động, dụng công ta sẽ phá vỡ cái đang là. Cũng sánh như trong vật lý lượng tử, khi ta chủ động đo lường, ta đã phá vỡ dạng sóng của thực tại để hạt sinh ra.

Thế nên vừa giữ thụ động vừa chú ý, nói gọn là chú ý trống rỗng, là bí quyết của sự quan sát. Ta không lạ khi Phật giáo Tây Tạng hay nêu rõ Trí tuệ là thụ động, là nữ tính. Trong lúc đó Phương tiện là chủ động, là nam tính. “Phương tiện” hay “phương tiện thiện xảo” là chủ động, dụng công can thiệp vào cái đang là, trong một tình trạng của Tâm hoàn toàn tỉnh giác sáng tỏ. Trong tình trạng giác ngộ của tâm thì tâm hoàn toàn thụ động nhưng lại hoàn toàn sẵn sàng sử dụng phương tiện. Khi đó Trí tuệ và Phương tiện thống nhất với nhau làm một.

4. Nhận thức bằng suy luận tư duy

Tới bây giờ, tổng kết lại thì ta thấy thế giới bên ngoài “chỉ” là tướng trạng khi vật chất đang vận động. Còn bên trong, thân cũng như tâm, là một tập hợp to lớn, hầu như không ai làm chủ. Nhất là tâm lại càng biến đổi nhanh chóng, liên tục, chớp nhoáng, khi có khi không. Cho nên khi ta ngắm nhìn thiên nhiên thì đó là một cái đang vận động nhìn một cái đang vận động khác.

Tư duy suy luận cũng là một hoạt động của tâm. Có hành giả coi nhẹ hoạt động của tư duy, nhưng thực ra tư tưởng, suy luận vô cùng quan trọng. Ý thức luôn luôn lập công đầu, “công vi thủ”. Thế thì ta hãy xem tri kiến khoa học và đạo học nói gì về thế giới và liệu ta có chứng thực được chăng?

Những phát hiện của ngành vật lý hạt nhân cho thấy trong mức độ nhỏ nhất của vật chất, trong mức độ hạ nguyên tử, các hạt cơ bản tồn tại rất ngắn ngủi, khi có khi không, xem như hoán chuyển được với cái mà ta gọi là năng lượng. Thực tại vật lý có thể xem là trống rỗng, nhưng không phải là không có gì nhưng lại là một trường năng lượng rất lớn, khi đủ điều kiện thì sẵn sàng chuyển hóa trở thành hạt cơ bản. Hiện tại khoa học vật lý còn phát triển mạnh nhưng ta có thể tạm thời kết luận như thế.

Thế thì các vị thánh hiền phương Đông quan niệm thế nào ? Trước hết có một điều vô cùng đáng ngạc nhiên, đó là các vị thánh nhân Phật giáo khái quát mọi hiện tượng cả tâm lẫn vật trong một khái niệm mệnh danh là “pháp hữu vi”. Họ tóm chung hiện tượng tâm vật, xác định tính chất chung nhất của chúng là những “hiện tượng được tạo thành” (hữu vi – composed things). Tất cả những gì được tạo thành, dù là do nhiều phần tử khác hợp lại, hay do các điều kiện khác sinh ra, được gọi là pháp hữu vi. Như thế thì từ mỗi hạt nhân nguyên tử đến cả các thiên hà vĩ đại, từ cực tiểu đến cực đại, đều là pháp hữu vi cả. Thân chúng ta và các cơ quan trong thân từ hơi thở cho đến các bộ phận cũng đều là pháp hữu vi. Chưa hết, cả mọi hiện tượng tâm lý cũng pháp hữu vi vì tất cả đều sinh ra từ các điều kiện khác. Về triết học đây là sự khái quát hóa cao nhất. Thế là mọi hiện tượng tâm vật trong thế gian đều là pháp hữu vi.

Như trên có nói, chúng ta đa số là nhà duy thực, ta xem các hiện tượng thế gian, nhất là vật chất và thiên nhiên đều có thực, chúng thực là như ta thấy chúng. Còn các vị đó nói sao về pháp hữu vi, về tất cả hiện tượng thế gian? Họ nói như sau:

Tất cả các pháp hữu vi/ Như cơn mộng, như ảo ảnh, như bọt nước, như bóng

Như sương mai, như ánh chớp/ Nên quán chúng như thế.

(Kinh Kim Cương, dịch bản chữ Hán của Cưu Ma La Thập)

Trong đoạn kinh, các vị nêu 6 ẩn dụ để mô tả thực tại tâm vật: cơn mộng, ảo ảnh, bọt nước, bóng, sương mai, ánh chớp.

Ta không rõ vì lý do gì mà dịch giả Cưu Ma La Thập không dịch hết bản Phạn ngữ, trong bản Phạn ngữ có đến 9 ẩn dụ như sau:

Như sao đêm, như mắt loạn, như ngọn đèn, như huyễn thuật, như sương mai, như bọt nước, như cơn mộng, như ánh chớp, như đám mây — những gì hữu vi nên được quán chiếu như vậy

Bản Anh ngữ: All composed things are like a dream, a phantom, a drop of dew, a flash of lightning.

That is how to meditate on them, that is how to observe them

Hãy bỏ qua con số 6 hay 9 của các ẩn dụ. Dù 6 hay 9, số lượng của các ẩn dụ này cho thấy một điều quan trọng. Đó là không có ẩn dụ, mô hình nào đúng hẳn cả, vì nếu có mô hình nào là thực tại thực sự thì hẳn các vị đã nói lên một cái duy nhất rồi. Ta có thể suy đoán là các vị thánh nhân thấy thực tại không thể dùng ngôn từ để diễn bày nên đành dùng lấy ẩn dụ, mô hình cho ta dễ hiểu. Cũng thế trong vật lý lượng tử, ngôn ngữ thông thường hầu như không diễn tả được thực tại đầy “nghịch lý” của nó. Thế thì ta có thể suy luận gì từ 9 mô hình, 9 ẩn dụ nói trên. Tính chất của các hiện tượng đó, thông qua các mô hình ẩn dụ, là ngắn ngủi, tạm thời, biến đổi liên tục, có nhưng không thực có, trống rỗng, chỉ là mặt ngoài, thấy vậy nhưng không phải vậy.

Các tri kiến đó đối với ta đều là cái biết gián tiếp. Nhưng những ai đã từng ngồi xuống, lặng lẽ, thụ động, thực hành chú ý trống rỗng, ngắm nhìn quan sát và ghi nhận tâm mình và vật thể xung quanh đều có thể trải nghiệm lại một số mô hình mà các vị thánh hiền đã nêu lên, đồng thời tự thấy thêm những hình ảnh khác. Thậm chí trong thế giới ngày nay ta có thể tự nêu lên những ẩn dụ mới mẻ, không cần dựa vào ẩn dụ kiểu cũ. Chiếc quạt máy theo tôi là một ẩn dụ dễ áp dụng.

Suy luận từ các ẩn dụ mô hình là vô cùng quan trọng vì là bảng chỉ đường trực tiếp nhất. Nhưng vì là bảng chỉ đường nên ta nhìn xong là đi tiếp, không dừng lại. Nếu dừng lại lập tức nó trở thành chướng ngại.

5. Nhận thức bằng cách buông bỏ

Đi tiếp nhưng đi đâu? Thật ra chẳng có đường sá gì cả. Cuối cùng, “đi tiếp” là buông bỏ cho các pháp hữu vi tự vận hành. Thế nào là buông bỏ, buông bỏ cái gì?

Tới nay ta thường nghĩ, nhận thức là một quá trình làm giàu thêm cho tâm. Nhận thức là thêm, thêm kiến thức, thêm kinh nghiệm, thêm phán đoán. Nhận thức chỉ có một chiều “thêm”.

Thế nhưng nếu khéo quan sát, ta sẽ thấy kiến thức và kinh nghiệm là một con dao hai lưỡi. Kiến thức giúp ta hiểu thấu sự vật nhưng đến mức nào đó nó thành chướng ngại. Cái thấy sinh cái biết, đến phiên nó cái biết lại ngăn cản cái thấy.

Đóa hoa vừa xuất hiện trước mắt. Ta chưa kịp thưởng thức nó thì khái niệm về hoa và kinh nghiệm trong ta liền lên tiếng: “Đây là loại hoa hồng gai mềm hay trồng tại Đà lạt. Có nhiều màu đẹp hơn nhiều”. Ta không thấy thực tại mà chỉ nghe lời nói của chính ta. Cái biết cũ xưa về hoa đã ngăn ta thấy đóa hoa tinh khôi.

Nếu sánh kiến thức như những viên gạch nằm trong kho chứa khổng lồ của tâm thì kiến thức và kinh nghiệm rất có khuynh hướng tự mình xây nên một lâu đài và giam giữ ta trong đó. Có ai nói “Có thể xây địa ngục bằng những viên đá của thiện chí” thì ở đây ta có thể nói nhại rằng “Có thể xây lâu đài trú ẩn bằng những viên đá của kiến thức và kinh nghiệm”.

Có lẽ chúng ta từng thấy rất nhiều người, phần lớn là lớn tuổi và nhiều kiến thức, tự xây cho mình một lâu đài của thành kiến, kinh nghiệm, khái niệm, thang giá trị thiện ác đúng sai… và ẩn trú trong đó. Họ bít cả cửa sổ cửa lớn, bản thân họ không ra ngoài và cũng không cho những gì mới mẻ lọt vào. Ánh sáng mặt trời cũng không vào, họ tự đốt đèn bằng chất dầu mang tên “từng biết – well known” và vui sống trong đó.

Có thể chúng ta cũng đang ở trong góc sâu kín nhất của lâu đài. Thế nhưng, nhìn quanh lờ mờ có vài bảng chỉ đường của thánh hiền. Nếu theo bảng chỉ đường đó đi vài ba bước, ta thấy một chút ánh sáng lạ. Nếu tâm rộng mở và thử đi theo ánh sáng đó thì xa xa là những cửa sổ, cửa lớn lấp lánh ánh sáng. Mạnh dạn mở toang những cánh cửa đó, tức là hai cửa của Nghe và Nhìn. “Mở toang” là buông bỏ những gì đã biết, giữ tâm chú ý, rỗng rang, không chủ động, không dụng công, không mong chờ, chỉ chú ý trống rỗng. Ta sẽ thấy ánh sáng mặt trời luôn luôn có đó.

Nói “ra ngoài” là nói ẩn dụ. Tâm không có trong ngoài. Tòa lâu đài nọ xây dựng bằng những viên gạch của tâm. Buông bỏ nó, phá hủy nó cũng là hoạt động của tâm. Chỉ cần thấy xuyên suốt tự tính của nó là đã phá hủy nó rồi, rất dễ. Nhưng cũng vô cùng khó, vì như Arbert Einstein nói, phá bỏ một thành kiến còn khó hơn phá vỡ một hạt nhân nguyên tử. Rất dễ nên nhà Thiền mới nói buông dao quay đầu là thành Phật. Rất khó nên không mấy ai thành tựu, trước khi thành tựu, Phật cũng phải tu vô lượng kiếp. Về phần tôi, tôi cũng thấy rất khó vì phải bơi ngược dòng tất cả mọi thói quen.

“Bên ngoài” ra sao? Bên ngoài những lâu đài kín cửa là một không gian vô cùng thanh tịnh. Huệ Năng đã từng thốt lên “Ai dè tự tánh vốn sẵn thanh tịnh”. Lục Tổ mà thốt lên “ai dè” thì chúng ta khó mà ngờ đến. Phía trên ta nói “giữ tâm rỗng rang” là nói cho người trong nhà đi lần ra cửa lâu đài, chứ ở bên ngoài rồi chỉ cần để tự nhiên, tâm vốn rỗng rang, tâm vốn luôn luôn chú ý, tâm vốn luôn luôn tỉnh thức. Cho nên ra ngoài thì cũng bỏ luôn sự chú ý vì lúc đó chính ta là sự chú ý.

Có thể các bạn hỏi tôi chứng nghiệm được cái gì. Lòng tôi vẫn còn đầy ngập những đám mây. Nhưng mây thỉnh thoảng vén ra cho thấy chút trời xanh. Tôi chỉ ghi nhận được rất ngắn là: Thực tại chính là toàn thể pháp hữu vi đang vận hành chớp nhoáng, vô chủ, cái này sinh ra cái kia, làm điều kiện lẫn nhau để sinh ra và diệt đi. Sinh diệt vô tận.

Không ai điều hành sự vận hành các pháp, chúng tự vận hành. Không có Thượng đế, không có quan tòa thưởng phạt.

Còn chúng ta là ai? Mỗi cá nhân chúng ta là một

tiêu điểm của sự ghi nhận. Tiêu điểm để các pháp hiện lên chứ tiêu điểm không phải chủ nhân các pháp. Bạn ngồi đó và ghi nhận các pháp như tim đập, hơi thở ra vào, hơi nóng trong thân, tiếng chim hót, chó sủa, ánh sáng, hình ảnh… Tất cả chúng là pháp và chúng vận hành vô chủ. Vô chủ nhưng vận hành hoàn hảo. Thỉnh thoảng có tư tưởng, ý niệm, ký ức hiện ra, nhưng các pháp đó lại biến mất. Tiêu điểm chỉ ghi nhận, không chạy theo chúng, không nạp cho chúng thêm năng lượng nên chúng diệt mất, như hết củi lửa tàn. Để có khái niệm về “tiêu điểm” này, các bạn hãy nhớ đến khái niệm ảnh toàn ký (Holographie), trong đó một điểm trong ảnh chứa toàn bộ chi tiết của cái tất cả.

Các pháp vận hành nhanh chóng chớp nhoáng, nhanh hơn cả máy vi tính. Trong sự vận hành đó hiện ra thế giới và con người. “Lại thấy trong ta hiện bóng con người” (Trịnh Công Sơn). Quạt quay hiện tướng đĩa tròn. Cũng thế, pháp vận hành hiện tướng thế giới và con người.

Nhưng cũng không phải ta ngồi đó hoàn toàn bất lực trước các pháp xảy ra. Có khi có một pháp hiện lên, muốn “can thiệp” vào thực tại thì pháp đó thông qua tiêu điểm đó để can thiệp vào thực tại. Trong tình trạng giác ngộ thì sự can thiệp đó gọi là “phương tiện thiện xảo”. Còn chúng ta cũng luôn luôn can thiệp vào thực tại, nhưng trong tâm vô minh, cái đó là hành động thông thường.

“Can thiệp vào thực tại” nghe có vẻ to tát nhưng thật ra rất bình thường. Thí dụ thông thường: Đang ngồi thiền, cảm giác ngứa nổi lên, ví dụ tại mũi. Bạn chủ động đưa tay gãi mũi, lúc đó bạn đã can thiệp vào thực tại. Và hành động gãi rất hoàn hảo: không thấy mũi, không để ý đến tay mà vẫn gãi đúng chỗ. Đó là do pháp hoạt động toàn hảo. Pháp trong dạng tự nhiên hoạt động luôn luôn toàn hảo.

Tất cả các pháp hiện lên tại tiêu điểm cá thể, tất cả các pháp tác động vào thực tại cũng thông qua tiêu điểm cá thể. Mỗi chúng ta là một điểm của bức ảnh toàn ký vĩ đại mà ta gọi là Tâm. Tất cả hiện ra trong một (tiêu điểm). Từ một (tiêu điểm) tác dụng lên tất cả. Chắc có ai trong các bạn đang nhớ đến Tư tưởng Hoa Nghiêm “Tất cả trong một, một trong tất cả”. “Tất cả trong một” là nội dung Trí Huệ, “Một trong tất cả” là nội dung của Phương tiện thiện xảo.

Thưa quí vị, thưa các bạn sinh viên,

Lặp lại tư tưởng Hoa Nghiêm, tôi cảm nhận run sợ vì vừa chạm đến những điều mình không biết, mình không trải nghiệm. Tôi chỉ là kẻ sơ cơ, còn trú trong lâu đài nọ, mới mò đến bên cửa sổ nhìn ra bên ngoài, thấy chút trời xanh. Nhưng vừa thấy trời xanh thì tâm tôi quen thói đưa khái niệm vào giải thích, lập tức bị ném ngược trở lại. Làm sao tôi biết được tri kiến của những ai đã an trú trong trời xanh được?

Hẳn có bạn tò mò hỏi “Thế thì làm sao ra bên ngoài, làm sao bỏ lại đằng sau tòa lâu đài?”. Tôi chỉ lặp lại lời kinh làm Huệ Năng bừng tỉnh:”đừng nên dựa vào đâu cả”, Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm. (Vô sở trụ: you must be Nonlocal), (sinh kỳ tâm: for the appearing of this mind)

Tức là không dựa vào đâu, buông bỏ tất cả, buông cả lời kinh, bỏ luôn sự buông bỏ. Tất cả kinh sách đều là bảng chỉ đường và nằm bên trong lâu đài. Kinh sách là ngón tay chỉ mặt trăng. Phải quên tay mới thấy trăng.

„Nói ra nghe thử”. Nếu quí bạn muốn nghe một lời thổ lộ chân thành thì vừa rồi là thật sự chân thành. Tôi không loại bỏ mình sai lầm, phiến diện, hời hợt, không đầy đủ. Tôi không có chút tham vọng thuyết phục ai về luận giải, triết lý gì cả. Tôi cũng không dám khuyên ai bơi ngược dòng, ngồi xuống gối, thực hành chú ý trống rỗng, thụ động ghi nhận. Tất cả chỉ là lời tâm sự.

Xin trân trọng cám ơn.

Nguyễn Tường Bách

7 thoughts on “Những Nẻo Đường Nhận Thức – Nguyễn Tường Bách

  1. From: Do Tung

    Mình chưa đọc bài ni nhưng mình đoán ý tác giả cũng giống như câu của Henry Miller viết:
    “I obey only my own instincts and intuition. I know nothing in advance.”

    Hoặc là câu chuyện thiền:

    A Zen story tells of Nan-in, a Japanese master during the Meiji era who received a university professor. The professor came to inquire about Zen. Nan-in served tea. He poured his visitor’s cup full, and then kept on pouring. The professor watched the overflow until he no longer could restrain himself.

    “It is overfull. No more will go in!”

    “Like this cup,” Nan-in said, “you are full of your own opinions and speculations. How can I show you Zen unless you first empty your cup?”

    Hoặc là như Baker Roshi, the American Zen Master, wrote:
    “The mind of the beginner is empty, free of the habits of the expert, ready to accept, to doubt, and open to all the possibilities…”

    Tùng

  2. From: Tong Mai
    Oct 8, 2014

    Ôi, Thuận đánh trúng một nốt nhạc thích ý. Khoa biết rõ anh mình hơn ai hết, nhưng chị xin nói leo bởi vì NTB là một nhà văn, khoa hoc, triết lý, Phat hoc, dịch thuật, mà chị mê lắm.

    Hom nay chị đã viết sảng nhiều, nhưng thấy Thuận viết trúng đề tài nên chị không đừng được, chị lại nói sảng tiếp đây.

    NTB viết nhiều, du lịch nhiều, kiến thức bao la, văn chương nhẹ nhàng, thanh thoát, có khi bình dị, bao quát từ khoa hoc, đến triết hoc, phật học, tùy bút, ký sự…. Chị đã mê sách ông viết tự thuở nào, và ráng không bỏ qua cuốn nào của ông, có những cuốn khó nuốt nhưng nhất định không nản, có cuốn được anh TD Lộc giới thiệu vì anh Lộc cũng là một người thích NTB.

    Đây là những cuốn tâm đắc của chị, chị giới thiệu với Thuận nhé:

    Đạo Của Vật Lý (dịch từ Taos of Physics của Capra)
    Lưới Trời Ai Dệt
    Con Đường Mây Trắng (Dịch từ Der Weg Der Weissen Wolken của Govinda)
    Mùi Hương Trầm (thương nhất, đọc mấy lần không chán, ký sự du hành qua Tibet, India và China)
    Đường Xa Nắng Mới (ký sự du hành, nói nhiều về Ngân Sơn)
    Mộng Đời Bất Tuyệt (rất thương)

    và:
    Đêm Qua Sân Trước Một Cành Mai (chỉ ok thôi)
    Su Tu Tuyet Bom Xanh (chuyện thiền, chị không thích lắm)

    Chị đã buồn ngủ, nhưng viết vội cho Thuận, hẹn Thuận ngày mai với phần kien thức cua Thuan viet.
    chị Mai

    ps. Mai cũng bravo anh Tùng với những analogy rất hợp của anh về khái niệm buông thả trong bài viết “Những Nẻo Đường Nhận Thức”. Cho Mai trích một câu của NTBách:

    “Hảy tập một cái tâm quan sát khách quan, không phê phán không dính mắc những điều đang biến hiện trong tâm, đó là cánh cửa mở ra để đến với những cái mà ta gọi là “minh triết”.

  3. Cám ơn anh TĐLộc và chị TMai đã cho đọc một bài thú vị. Bài viết sâu, nên T có tìm hiểu đôi chút về NTBách. Hóa ra có 2 người cùng tên cùng họ. Một người là em út trong dòng họ Nguyễn Tường. Vị BS Y Khoa này sinh năm 1916 và đã mất năm 2013.

    Vị kia trẻ hơn, sinh năm 1948. T đoán đây là người anh của anh Nguyễn Tường Khoa nhóm Huế. Với kiến thức sâu rộng của một tiến sĩ vật lý, có lẽ NTBách trẻ cũng là người đã viết cuốn “Lưới Trời Ai Dệt”. Không biết có đúng không. Nếu không đúng, mong anh Khoa tha lỗi.

    Vì anh Tùng chưa đọc hết, nên T đã đọc giùm. Và thấy anh đã “nắm” hầu như trọn vẹn ý nghĩa bài viết của anh NTBách ( mà trước đây T gọi bằng Cụ vì lầm với Bác Sĩ NTB) khi nhắc đến các ý của H. Miller, Nan-In, Baker Roshi.

    Bravo, anh Tùng (chưa gặp, chưa quen, nhưng mạo muội cho khen anh một phát!)

    Dù tác giả khiêm tốn, “ Những Nẽo Đường Nhận Thức” là một bài viết thâm hậu, diễn tả ý của thiên kinh vạn quyển:

    Gió chuyển Trúc lay, Gió lặng Trúc ngừng.

    hay

    Nhạn quá trường không,

    Ảnh trầm hàn thủy,

    Nhạn vô di tích chi ý,

    Thủy vô lưu ảnh chi Tâm.

    hoặc

    Ưng vô sở tru, nhi sanh kỳ tâm.

    Tâm vô trụ để (có thể) thấy mọi thứ Như Nó Đang Là.

    Nhân một câu viết của tác giả,

    “Nếu sánh kiến thức như những viên gạch nằm trong kho chứa khổng lồ của tâm thì kiến thức và kinh nghiệm rất có khuynh hướng tự mình xây nên một lâu đài và giam giữ ta trong đó.”

    T xin góp mấy giòng viết đã 4-5 năm trước, cho vui:

    Kiến thức từ ký ức mà có. Từ thủa oe oe chào đời cho đến hiện tại, khối óc ghi lại và tích lũy mọi kinh nghiệm, ý thức và vô thức. Từ bầu vú hay tiếng ru của mẹ, lời giảng của Thầy Cô ở những lớp vỡ lòng, hình ảnh núi sông,(ngay cả hình ảnh và mùi hương của một đóa hoa nở dưới trăng!) những vần thơ văn hay dở đọc đuợc, những âm thanh thê lương hay hùng tráng, những khái niệm và kinh nghiệm học hỏi và trải qua trong sách vở hay trường đời, về văn hóa, gia đình, bằng hữu, đôi lứa, tổ quốc…Mọi thứ. Tất cả những tích lũy ấy dần dà hình thành trong khối óc một cái “tôi”, một phóng ảnh của cái tôi và vũ trụ chung quanh. Tất cả những thứ ấy uốn nắn dần dà trong “tôi” một “nếp” suy nghĩ; một cơ cấu phòng vệ và phản ứng, có mục đích duy trì sự an toàn thể chất hay tâm lý. Quan điểm về nhân sinh, tương giao giữa con người và con người, giữa người và vũ trụ cũng từ đó hình thành.

    Trong tiến trình bị điều kiện hóa ấy, kiến thức thường hướng suy nghĩ và phản ứng theo “nếp”, theo một cái khung, theo thói quen hay thành kiến. Trong ý nghĩa ấy, tư duy trở thành tù hãm, khối óc trở thành nô lệ. Có những kiến thức có tính cơ bản, máy móc, và cần thiết. Như kiến thức về văn phạm và ngữ vựng tiếng Việt để T có thể viết mấy giòng này. Kiến thức về đường đi từ nhà đến sở làm để T không lạc lối. Kiến thức về cơ thể học cho nhà giải phẩu… Nhưng kiến thức sẽ trở thành chướng ngại trong tương giao, nhất là tương giao giữa người và người. Rất khó để nói tôi đến với bạn với một khối óc hoàn toàn tự do, với không một quan điểm có sẳn, không thành kiến. Tương tự, kiến thức bị điều kiện hóa ấy cũng là bức tường kiên cố ngăn con người thực sự hiểu biết thực tại khách quan. Euclid nói, từ một điểm ngoài một đường thẳng, ta chỉ có thể vẽ, một và chỉ một, đường thẳng song song với đường thẳng đã cho. Tiên đề ấy đã khống chế khối óc loài người, và khoa học, hơn 2,500 năm cho đến khi có Riemann, người đã mở đường cho những hiểu biết mới, gần với thực tại hơn, khi cho rằng, không có đường thẳng, và đường ngắn nhất để nối hai điểm là một đường cong. Đã bao ngàn năm con người vẫn cho rằng trái đất là trung tâm của vũ trụ, với mặt trời quay quanh nó. Để chống lại điều nghịch với thực tại ấy, Galileo đã trả giá với chính cuộc đời mình. Cả ngàn thí dụ khác để nói lên, kiến thức nhiều khi không những làm trở ngại cho hiểu biết thực sự, mà còn có tính hủy diệt.

    Ôi, đánh đổ một thành kiến còn khó hơn phá vỡ một nguyên tử. (“We live in a world where it is easier to break an atom than a preconceived idea” – – Einstein)

    Rứa thì, như tách trà của Nan -in, kiến thức đã làm đầy, đã làm khối óc mất khả năng tỉnh thức. Nói một cách khác, kiến thức có thể làm chúng ta mất khả năng dung nạp, lắng nghe thông minh (full awareness), để nhìn thấu và hiểu biết thực tại, Như Nó Đang Là. (as it is).
    tdt

  4. Nương theo đề tài gởi tới nhóm,

    Cũng là một bài dính dáng với tựa đề ‚Nhận thức‘ của sư ông Nhất Hạnh. Tựa thì hao hao nhưng í thì khác biệt với bài pháp giảng của NTBách.

    Đôi khi đọc thơ Nhất Hạnh và thơ Tuệ Sĩ thấy rụng rời người. Không thể tin được những bậc tu hành này chan chứa những hồn thơ như vậy.

    Ai bảo những nhà chân tu đã diệt hết được tất cả!

    LCHoằng

    Vòng tay nhận thức
    Thích Nhất Hạnh

    chuông ngân một đêm dài không ngủ

    hai bàn chân không, tì tay cửa sổ

    tôi đợi vườn cây hoa lá hiện hình

    ánh sáng chưa về

    nhưng trong lòng đêm thâu tôi biết em còn đó

    trong lòng đêm thâu hay trong lòng bao la nhận thức

    tự bao giờ, em vẫn là duyên sở duyên

    lát nữa bình minh về và em sẽ thấy

    cả em, cả chân trời hồng

    và cả mầu trời xanh biếc

    mêng mang, vời vợi

    đều hiển hiện trong lòng mắt tôi

    xanh nghĩa là xanh cho ai

    hồng nghĩa là hồng cho ai

    nghiêng mình trên dòng nước trong, em hỏi

    hiện hữu ca lời duy nhất nhiệm mầu

    tôi bỗng mỉm cười hồn nhiên trước đêm sâu hồn nhiên trinh bạch

    tôi biết vì tôi còn đây nên em còn đó

    và hiện hữu em trở về bừng tỏa nơi nụ cười huyền diệu của đêm nay

    sải tay, tôi bơi đi

    bình yên

    trong dòng suối trong, im lặng

    tiếng nước thì thầm bên tai êm ái

    tôi ngửa mặt nhìn trời cao, đầu tôi gối sóng

    còn kia, đúng rồi, mây trắng trời xanh

    xao xác lá thu trong rừng cây

    và ngây ngất hương thơm của cỏ rơm đồng nội

    kìa ngôi sao khuya đưa lối

    cho tôi trở về

    tôi biết là em còn đó, vì tôi còn đây

    vòng tay nhận thức, vô lượng do tuần, nối liền diệt sinh năng sở

    và tôi đã thấy

    trong lòng đêm thâu hay trong lòng bao la nhận thức

    của em, cũng như của vườn hoa lá

    tôi đã tự bao giờ vẫn là duyên thân sở duyên

    diệu hữu ca lời chân không mầu nhiệm

    đêm thâu còn đang nguyên vẹn

    âm thanh hình bóng em về tràn đầy nơi hữu thể

    bởi vì đêm nay

    tì tay trên cửa sổ

    và chân không trên nền đất mát

    tôi còn đây, đang hiện hữu cho em

    1. HĐThuận thân,
      Mình hoàn toàn không ngụ í phê phán hoặc chê trách, ngược lại đó là lời thán phục và tán dương những tâm hồn chân tu như thế. Nếu mang được chất thơ theo thì bước đường tu tập lại càng thêm thi vị. Qua những câu thơ những bài viết thi thoảng mình đọc được từ các vị, mình nghĩ những bậc này chan chứa một tâm hồn lai láng và mẫn cảm hơn đa số người thường tục, mới tuôn ra được những câu thơ lời văn, đọc đôi khi thấy bủn rủn. Và tự nghĩ và chợt hiểu con đường tu tập là con đường hiến dâng chứ không là con đường khổ hạnh. Để nếu trong cuộc đời mình có được duyên may, có dịp gặp gỡ sư ông Nhất Hạnh, nghe ông nhâm nhi tách trà mà ngâm vài câu thơ, hoặc duyên may gặp gỡ sư ông Tuệ Sĩ, được uống tách trà thơm cùng ông và nghe ông dạo một bản sonata trên piano, hoặc kéo một bản chiều tà trên violon, thì không phải là quá tuyệt vời hay sao?

      Vì vậy liên tưởng đến í niệm nhận thức ‚buông bỏ‘; thì như trên đã tâm sự, đâu cần phải buông bỏ mới sống được chánh niệm, mới thực hành tu tập được. Nếu buông bỏ hết mà trở thành vô tri, thì vô tri không là mục đích hướng tới.

      Vả lại đây là một đề tài trao đổi hay mà mình vẫn còn thắc mắc không bỏ qua được, vẫn thấy có một gì đó cấn cái, vẫn thấy đó là một paradox: Nếu buông bỏ nhận thức, thì theo bài viết nhận thức là một process, làm sao buông bỏ được; vậy thì chỉ buông bỏ đuợc những gì chất chứa trong tâm thức, vất bỏ những kiến thức, những kinh nghiệm, những kinh qua … thế nhưng để hấp thụ qui trình nhận thức mới đôi khi đòi hỏi phải có một vốn căn bản tri thức tối thiểu, vậy thì phải buông bỏ cái gì, cái gì là thừa thãi đáng vất bỏ đi?

      Và rồi liệu con người có đạt được trạng thái đó không? Và nếu đạt được trạng thái đó trong một khung thời gian nhất định nào đó, để rồi quay về lại và sống trong hiện tại, thì làm như vậy để đạt mục đích gì?

      Qua đó những citation của bác ĐTùng mình cũng hiểu như là một hình thái: Sửa soạn dọn tâm thanh tịnh, dọn lòng thanh thản, xoá bỏ thành kiến, sẵn sàng tiếp nhận cái mới, chờ đón cái mới chứ không hẳn là phải empty hết tri thức mình.

      Mà đó cũng chính là hình thái .. ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm .. hãy để tâm trong sạch đừng vướng bận nơi nào .. (Kim Cang kinh của HĐThuận đó)

      Con người sau một thời gian có nhiều khám phá vượt bực, hiện đang đứng trước một bức tuờng kiên cố đầy câu hỏi, đang tiệm cận một biên giới chưa giải thích được (xưa nay vẫn thường được gọi là huyền bí). Nẩy sinh một số xu hướng: dùng khoa học để biện minh cho giáo pháp xong lại dùng ngược giáo pháp để giải thích vạn vật, giải thích hiện tượng vũ trụ???
      Thân

      LCHoằng

      TB.: Những thắc mắc trên hoàn toàn không ngụ í phê phán hoặc chỉ trích cá nhân nào, chỉ là những suy nghĩ của cá nhân đem ra bàn thảo với bạn bè trong nhóm trong khuôn khổ đề tài nêu trên thôi. Mong mỏi đóng góp của nhiều bạn bè.

    2. From: Tong Mai
      Oct 10, 2014

      Nếu Mai cũng hiểu không lầm câu cuối của anh Hoằng (Ai bảo những nhà chân tu đã diệt hết được tất cả!) thì hình như anh nghĩ bài thơ nói đến một “trần thế” nao đó? “em hiện hữu cho nên tôi mới hiện hữu.” (Mai xin lỗi nếu Mai hiểu sai anh)

      Vì hiểu như vậy nên Mai nghĩ đoạn văn ông viết trong Nẻo Về Của Ý về sự nhận thức này khi ông nói về “em” và tôi , “tôi biết là em còn đó, vì tôi còn đây, vòng tay nhận thức, vô lượng do tuần, nối liền diệt sinh năng sở.” Tôi còn đó cho nên em (thế giới) còn đó.

      “Vậy ta cứ cho rằng thực tại bản thân, tánh cảnh vô chất, nằm trong phần căn bản của nhận thức cộng đồng, hoặc có thể gọi là tự thể phần của thức hay của thức cộng đồng cộng biến; còn thế giới khái niệm, thế giới đới chất và độc ảnh, là thế giới được tạo tác nên do khuynh hướng biến kế chấp trong đó tướng phần và kiến phần là hai mặt hiện tượng của một tự thể …chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức không thể rời nhau” ….. “Đó phải chăng là dấu hiệu của thực tại bất sinh bất diệt.”

      “Tôi còn đây, tôi hiện hữu, cho thế giới hiện hữu, cho em hiện hữu. Cũng như hòn sạn kia, cũng như đám mây kia. Sự hiện hữu của chúng kéo theo sự hiện hữu của tôi. Và nếu viên cuội kia mà không thật sự hiện hữu thì tôi đây làm sao hiện hữu được? Đã có thì có từ hạt bụi. Mà hạt bụi đã không thì tam thiên đại thiên thế giới cũng không. Tôi cũng không. Em cũng không.”

      TMai

  5. Dear anh Hoằng,
    Cám ơn anh đã viết cho em út mấy giòng thân tình.
    Thắc mắc của anh cực kỳ vi tế. Cực kỳ vi tế như câu anh viết “…dọn tâm thanh tịnh, …, hãy để tâm trong sạch đừng vướng bận nơi nào…” trong khi bản chất “tâm” không hình tướng, vốn thanh tịnh, không sạch không dơ…”

    Cho đến khi được hoàn toàn tự do, tùy khế cơ, trình độ, ý có thể được diễn tả/hiểu khác, nhưng không mâu thuẫn, (vì mọi hiện hữu/diễn tả đều có lí do/đối tượng của nó.)

    Cũng vậy, quan điểm phật giáo vốn không nên, không cần khoa học biện minh, nhưng có nhiều người kinh kệ mơ mơ hồ hồ, như T, có thể nhờ khoa học minh họa mà được vỡ lòng cơ cấu thâm hậu này một chút. Và, tìm thấy trong triết học này nhiều khái niệm thú vị và giá trị, có thể làm nền tảng hướng dẫn cho các suy nghĩ khoa học của tương lai.
    Và T cũng đồng ý điều anh Tùng nói, hiểu chợt chợt như T, lại dùng ngôn ngữ giới hạn diễn tả thứ khó/hay không thể diễn tả được chỉ tổ gây confused, lạc đường…
    Vậy hẹn gặp anh một ngày Mai An Tiêm, nếu đủ duyên, để cố gắng làm anh confused chơi.
    Trước khi “buông” mọi thứ, T mong anh sẽ Admire/Appreciate (all the beauty?) nhưng không Engage. Enjoy mọi thứ nhưng không Attach.
    Gracias,
    hdt

Leave a Reply