Người Do Thái lạc loài – Nguyên Huệ

Nov 3, 2015 (TM)

Tree of Life at the Dohány Street Synagogue holocaust museum in Budapest, a memorial stainless steel weeping willow dedicated by Tony Curtis to thousands of Hungarian Jewish martyrs that lost their lives from the Nazis - Photo: TongMai
Tree of Life at the Dohány Street Synagogue holocaust museum in Budapest, a memorial stainless steel weeping willow dedicated by Tony Curtis to thousands of Hungarian Jewish martyrs that lost their lives from the Nazis – Photo: TongMai

Seldon người Do Thái, là bạn học rất thân của tôi những năm 90, vừa qua đã cùng tôi dùng bửa tối sau 18 năm không gặp, anh trở lại để giải quyết số tài sản còn lại và cùng đại gia đình trở về miền Đất Hứa, chấm dứt cuộc đời lưu vong trên đất Âu.

Trước khi từ giã, lần này anh chỉ muốn chúc tôi Sức khỏe và Kiên nhẫn, khác với lần 1997 khi chào tôi để về làm việc ở quê nhà Israel, anh ta đã ném vào nhà tôi một nắm tiền cắc 1-2 cents với lời chúc bạn sẽ nhanh chóng giàu có.

Thời gian qua, tin tức hàng ngày chúng ta vẫn thường nghe đến những khủng bố, xung đột Israel-Palestine, chiến tranh Hồi Giáo, làn sóng tị nạn từ Trung Đông…nhưng trong đó có một vấn đề ít được công khai: sự hồi sinh của nạn phân biệt đối xử và bạo lực đối với người Do Thái ở châu Âu.

Một vài người có thể cho rằng làn sóng bạo lực bài Do Thái (l’antisémitisme) ở châu Âu được dấy lên chủ yếu bởi những người Palestine. Không, vấn đề còn nằm sâu hơn nữa, và đã tạo cho người Do Thái cảm giác mạnh mẽ rằng họ sẽ không có tương lai ở châu Âu, đến nỗi đầu năm nay, Thủ tướng Pháp Manuel Valls, chinh trị gia duy nhất tại Châu Âu, đã nhận ra mối đe dọa này qua bài phát biểu gay gắt tại Quốc Hội :
“Comment accepter qu’en France, terre d’émancipation des Juifs il y a deux siècles, mais qui fut aussi, il y a 70 ans, l’une des terres de son martyre, comment peut-on accepter que l’on puisse entendre dans nos rues crier ‘mort aux Juifs’ ?”….Il faut poser les mots pour combattre cet antisémitisme inacceptable
Và câu cuối cùng ông nói: “Oui, disons-le à la face du monde, sans les Juifs de France, la France ne serait plus la France.”

Một câu hỏi, tại sao người Do Thái trong suốt thời gian lưu vong, bi bài trừ, tẩy chay, phân biệt đối xử trên hầu hết các quốc gia Châu Âu, bi dồn vào những khu bẩn thỉu, tù túng (ghetto) hay bị thảm sát tại các trại tập trung…

Một vài suy nghỉ về nguyên nhân :
-Lịch sử dân tôc và tôn giáo:
Vùng đất Palestine và Israel hiện nay, từ ngàn xưa có tên là Canaan, dãi đất ven Địa trung Hãi và sông Jordan, ở ngã ba của Phi Châu, Á Châu và Âu Châu, có dân tộc Semite sinh sống, sau đó bị người Philistin tới chiếm lấy và dặt tên là Palestine, tiếp theo có một dân tộc thứ ba đến sinh sống đó là dân tộc Hebrew, tổ tiên của người Do Thái.

Theo truyền thuyết, khoảng năm 2000BC, Abraham, trưởng một bộ tộc, giao ước nguyện sẽ tôn thờ Thượng Đế – Đức Jehovah – là Thiên Chúa duy nhất của vũ trụ, đổi lại Thượng Đế hứa rằng, xứ Canaan sẽ thuộc về Abraham và con cháu đời đời. (vì lý do đó Canaan được gọi Đất Hứa), Abraham cưới Sarah, con nhà quý tộc, không có con nên lấy Hagar, một thường dân làm vợ thứ và có con trai là Ishmael, nhưng sau đó Sarah cũng có con trai là Isaac nên yêu cầu Abraham đuổi mẹ con Ishmael ra khỏi bộ tộc. Ishmael đi đến Mecca và con cháu Ishmael sau này phát triễn mạnh trên khắp bán đảo Ả rập và trở thành người Hồi giáo, Kinh Koran theo đó cũng tách ra khỏi Kinh Thánh Hebrew. Còn con cháu của Isaac vẫn ở lại Palestine và trở thành tổ tiên người Do Thái. – Viêc ra đi khỏi bô tôc của Ishmael và sự phân biệt giai cấp trong dòng họ gia đình Abraham, là một trong nguyên nhân sâu xa và thầm kín, it được nhắc đến khiến người Hồi giáo và Do Thái, tuy cùng một nguồn gốc nhưng không hết thù ghét nhau.

Do Thái Giáo có vào khoảng năm 1500BC, vào cuối thế kỷ 1, Ki-tô giáo ra đời và khởi đầu như là một chi nhánh của Do Thái giáo, với Chúa Jesus và các tông đồ. Dưới thời La Mã, Ki-Tô giáo trở thành quốc giáo, sau kết hợp với nền văn minh Hy Lạp, Kitô Giáo đã phát triển rực rỡ khắp Châu Âu nhưng trong ký ức những người Ki Tô giáo, họ vẫn luôn cho rằng những người Do Thái là những tội đồ giết Chúa Jesus bằng đóng đinh trên thập tự giá.

-Người Do Thái lưu vong :
Những năm 586BC do kết quả những cuộc xâm lăng, người Do Thái, lần thứ nhất, bị lưu đầy sang vùng đất Mesopotamia, đặc biệt là thủ phủ Babylon, rồi Ai Cập.
Năm 70AD, sau khi nỗi lên chống lại chính quyền tàn bạo của Đế quốc La Mã bi thất bại, hàng ngàn người Do Thái bị giết hoặc bị bắt làm nô lệ và bị lưu đầy phân tán đi khắp các miền của Đế quốc La Mã. Từ thời điểm này, hành trình lưu vong của người Do Thái bắt đầu, có người bị ép buộc di cư, có người tự nguyện. Dân tộc Do Thái bắt đầu cuộc đời trôi nổi, lang thang khắp Trung Đông, Địa Trung Hải, Châu Âu, Bắc Phi, Đông Âu … cuối cùng đến Bắc Mỹ.

Trong suốt 2000 năm lưu vong, bất kỳ ở đâu, người Do Thái cũng hình thành nên những cộng đồng nhỏ, rãi rác, tuy vẫn hòa đồng và hội nhập với cuộc sống địa phương, nhưng sinh hoạt của họ rất khép kín với một tôn giáo, một văn hóa, một dân tộc, kỷ cương, không thiết lập bất kỳ thể chế chính trị nào, có thế xem đây như hình thức của một quốc gia thu nhỏ trong một quốc gia nơi họ cư ngụ, với “hiến pháp bỏ túi” là kinh sách Talmud và những khẩu luật truyền miệng bởi các Rabbis, họ trở nên những cộng đồng không thể bị đồng hóa hoặc hòa tan bởi bất kỳ thế lực nào mạnh hơn họ.

Bản chất người Do Thái rất thông minh, có truyền thống coi kiến thức trí tuệ là thứ quý nhất của con người, Kinh Talmud viết: Tài sản có thể bị mất, chỉ có tri thức và trí tuệ thì mãi mãi không mất đi đâu được. Mặt khác, đạo Do Thái lại đặc biệt coi trọng tài sản và tiền bạc, (trái ngược quan điểm của các tôn giáo khác), làm giàu là bổn phận của con người, vì người giàu có trách nhiệm to lớn đối với xã hội: họ không được bóc lột người nghèo mà phải chia một phần tài sản của mình để làm từ thiện, xét cho cùng quan điểm của họ rất thực tế, rõ ràng, chỉ khi nào mọi người đều có tài sản, đều giàu có thì khi ấy mới có sự bình đẳng đích thực, toàn dân mới có nhân quyền, và đó là phương tiện tốt nhất để bảo vệ mình và bảo vệ dân tộc họ, với động lực đó khiến họ ở đâu cũng lo làm giàu, giúp đỡ nhau để tất cả cùng giàu lên không bao giờ chịu nghèo khổ. Họ có bản năng kiếm tiền và làm cho tiền đẻ ra tiền bang nhiều cách kinh doanh hữu hiệu. Vì thế cộng đồng Do Thái lúc náo cung giàu có hơn cả.

-Một cái nhìn chung cuộc
Nhìn lại sự đối xử với những người Do Thái lưu vong cho đến ngày hôm nay, với những nền dân chủ, văn minh, tiến bộ, bình đẳng, với những lơi thuyết giảng nhân từ, bác ái, bao dung của các tôn giáo, theo tôi đó chỉ là một lóp vỏ bọc mỹ miều, che dấu những điều sâu xa mà nhiều người không muốn nhắc đến, hận thù dân tộc, giai cấp trong lịch sử, thiếu sự khoan dung trong mâu thuẩn tôn giáo.

Còn nữa, bản tánh cố hữu của con người là sự đố kỵ, ganh tỵ, với mặc cảm thua kém, hoặc trước sự bất khuất của một đối tượng khg thể chiến thăng được thường tìm cách phân biệt đối xử hoặc tiêu diet, điều này rất rõ ràng nhận thấy ở các chế độ độc tài: thời Adolf Hitler với l’holocauste, hay các nước Đông Âu : Nga, Ba Lan, Hongrie…, ở các nước phương Tây, do đời sống vật chất, văn hóa và dân chủ tương đối phát triển nên sự việc có vẻ kín đáo và tế nhị hơn.

Cùng thân phận lưu vong, tôi nghĩ, không riêng gi dân tộc Do Thái, bất kỳ một dân tộc nào khác, có cùng bản chất và tố chất như người Do Thái, cùng hoàn cảnh, sẽ được đối xử không khác những gì chúng ta đã thấy và đang thấy.
Qua những gì hàn huyên với người bạn thân Do Thái đã lý giãi cho lời chúc bạn “Sức khỏe và Kiên nhẫn” thay cho lời chúc “Giàu có” của 18 năm về trước.
Một thế giới Hòa Bình và An Lạc chỉ có với – Từ Bi và Hỷ Xã.

Nguyên Huệ
Nov 2, 2015

Leave a Reply