Bát Nhã Tâm Kinh và Nhị Nguyên

Sept. 25, 2014 (TM)

“Chỉ khi nào em bắt đầu thấy được giữa bùn đen kia với tuyết trắng nọ không có cái gì xấu cái gì đẹp, chỉ khi nào em biết bắt đầu nhìn sự thật với tâm niệm không phân biệt, nghĩa là biến kế, thì em mới có thể nếm được thế nào là đại bi. Dưới con mắt của đại bi, không có tả không có hữu, không có thù không có bạn, không có thân không có sơ…”

Những đoản viết gối đầu từ năm xưa!
Tống Mai (June 6, 2012)

Trích Nẻo Về Của Ý – Thích Nhất Hạnh
Đêm nay, trời sáng tỏ một cách kỳ lạ. Tôi chưa đi mà đã nhớ nhà rồi. Nhưng mà ở đâu cũng có từng này ngôi sao, ở đâu cũng có chút trời xanh và mây trắng hả Nguyên Hưng. Tôi đi rồi tôi lại về thì có sao đâu. Lòng tôi hơi xao xuyến một chút, nhưng mà vẫn yên tĩnh. Tôi muốn nói chuyện với Nguyên Hưng trong khung cảnh thanh tịnh này, và ngòi bút của tôi sẽ trở lại gạch những chữ Nguyên Hưng trên giấy trắng.

Kỳ ở Huế về vừa rồi thấy những đám mây trắng đẹp quá đi. Tôi ngồi trên một chiếc DC4.

Buổi chiều, ánh nắng vừa tắt nhưng ánh sáng còn dư dã để cho ta có thể thấy được sắc dịu hiền và trinh tuyền của những lọn mây. Cái thảm mây đó nó nằm phía dưới máy bay chúng tôi. Nó rộng lắm. Từng lọn từng lọn nối tiếp nhau, che khuất núi rừng phía dưới. Những lọn mây trắng như tuyết. Trinh tuyền hơn cả tuyết. Tôi muốn vốc chúng trong hai lòng bàn tay. Và bổng nhiên tôi thấy tôi với mây là một, tôi cũng trắng tinh và êm dịu như mây.

Điều đó thường quá mà, phải không Nguyên Hưng. Tại sao chúng ta ưa những cuộn mây trắng nõn và những tấm thảm tuyết trình tuyền? Tại vì cái khuynh hướng của bản chất sinh lý và tâm lý của ta nó thế. Ta ưa những cái gì tinh sạch, đẹp đẽ và an lành. Tinh sạch, đẹp đẽ và an lành theo nhận định và lập trường của cơ thể ta, tâm lý ta, chớ không hẳn là tính sạch đẹp đẽ và an lành như những tính cách khách quan của thực tại. Ưa một tờ giấy trắng, ưa một dòng nước trong, ưa một nét nhạc mềm hay mot người con gái đẹp thì cũng vậy, không có khác nhau gì hết trên căn bản tâm lý của con người. Nguyên Hưng chẳng thường nghe người ta đem tuyết đem trăng đem hoa để tả người con gái đẹp sao. Nhất là khi người con gái có vẻ hiền thục thì người ta lại ví đó là Tiên là Phật bởi vì Tiên Phật vừa đẹp lại vừa hiền. Và bên dưới những cái thiên hạ cho là đẹp là sạch là lành thì người ta còn tham lam đặt thêm nền tảng của sự thường còn. Đó là do nhu yếu của con người mà ra cả. Con người ưa cái gì thanh sạch, đẹp đẽ, hiền lành, và ưa những cái ấy thuộc về mình, đồng nhất với mình, và thường còn với mình. Thế rồi phía bên kia còn gì? Phía bên kia còn trái ngược với sự trong sạch tức là sự ô uế, sự trái ngược với sự đẹp đẽ tức là sự xấu xí, sự trái ngược với sự hiền lành là sự ác độc và sự trái ngược với sự thường còn tức là sự tiêu diệt tức là vô thể.

Và do đó có một sự vật lộn để tìm sang bên này, xua đuổi bên kia. Cho đến nỗi mà trong kinh Phật có khi người ta phải đùng bốn đức Thường Lạc Ngã Tịnh (Hữu thể, An lạc, Tự do, Thơm sạch) để miêu tả Niết bàn rồi sau đó phải thêm rằng phải hiểu những chữ đó theo hiểu nhất nguyên siêu tuyệt của nó mà đừng hiểu theo nghĩa tương đối trong thế giới hiện tượng. Điều đó chứng minh rằng con người chúng ta đã bị ám ảnh quá nhiều bởi ý tưởng về hạnh phúc ước lệ trên kia.

Đột nhiên kinh Bát Nhã tới giáng những đòn sống chết trên nhận thức đó. Quán Tự Tại Bồ-tát sau khi nhìn thấu suốt thế giới hiện tượng mỉm cười tuyên bố “Tất cả đều giả lập (không) hết. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức, nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, sắc, thanh, hương, vị, xúc, vân vân… đều là giả lập. Và: “Chân tướng của các giả lập đó không sinh cũng không diệt, không ô uế cũng không tinh sạch, không thêm cũng không bớt đi” còn gì nữa mà nghi ngờ hả Nguyên Hưng. Đó là điều tôi trông thấy trên máy bay, mà trông thấy từ một khía cạnh khác. Trông thấy như thế nào? Nguyên Hưng ơi, em hãy nhìn và em sẽ thấy, hỏi tôi làm chi. Tôi chẳng nói được chi cả, bởi vì không có gì mà nói.

Ban đầu thì tôi mỉm cười nghĩ đến những hình thái của nước: nước trong, nước suối, nước đá, hơi nước, mây, tuyết, mưa vân vân… Tất cả đều là H2O. mà chính là H2O cũng giả lập – cũng không phải là thực thể tự hữu – lấy O mà xét thì O có thể được chuyển thành những cái ta không gọi là O. Và chính những cái đó cũng là giả lập. Cũng là chuyển thành. Nương tựa vào nhau, trùng trùng điệp điệp. Không thể tách O ra khỏi không O, không thể nói O và không O là một, Nguyên Hưng à.

Trên cái căn bản di động đó, ta thường cố nắm lấy một cái gì không di động. ví dụ tôi đặt cho tôi một câu hỏi: anh cho hiện tượng nào là đẹp nhất? Tôi nói nước. Đẹp quá. Nước trong như gương. Tuyết phủ trên đỉnh núi. Mây từng cuộn trắng hay ngoài bãi biển. Mưa rào rào thấm nhuần cây cối xanh tươi. Nếu thiếu nước, thế giới này điêu tàn, khô cằn héo hon, buồn bã biết mấy. Cho nên tôi thấy Nước đẹp. Thế rồi tôi hỏi: Ví dụ không có lửa, nghĩa là không có nhiệt lực, không có hơi ấm, không có ánh sáng mặt trời? Thiếu ánh sáng chẳng hạn thì cái gì đẹp, cái gì không đẹp. Cái gì trong như gương, cái gì phủ trên núi, cái gì bay bay ngoài bãi biển, cái gì rào rào thấm nhuần cỏ cây xanh tươi? Óc tôi lóe thấy sự thực, nhưng mà tôi đã mê Nước rồi, tôi đành nhắm mắt nói liều: mặc kệ, tôi có nói là tôi ưa Nước nhất. Thật là vô minh, có phải không Nguyên Hưng.

Trong quá trình tuyên dương chuyển biến của các giả lập các hiện tượng – ta thấy có luân hồi. Chắc Nguyên Hưng đã liệng bỏ cái cái ý niệm luân hồi trẻ con ngày trước đi rồi, cái ý niệm đinh ninh rằng phải có gì đó. Như O hay cái H tôi vừa nói trên thì mới có luân hồi được. Nhưng trên sự thực chẳng có cái O cái H tự thân nào mà cả thế giới giả lập vẫn diễn biến mầu nhiệm. Luân hồi đó chớ gì, nhưng nếu nhìn thấu suốt ta sẽ không thấy có gì thường hay vô thường, tinh sạch hay ô uế, hiền lành hay ác độc, đẹp đẽ hay xấu xí. Đừng có nói cho trẻ con biết điều đó bởi vì chúng sẽ nói: không có hiền ác, không có tốt xấu và không có luân lý. Trẻ con chưa có mở mắt ở thời nào cũng vậy.

Nguyên Hưng ơi, giữa cái tinh sạch và cái ô uế, giữa cái đau khổ và cái sung sướng, giữa cái hiền lành và cái độc ác, mình theo cái nào? Nghe hỏi mà buồn cười, phải không Nguyên Hưng? Theo cái tinh sạch, cái sung sướng, cái hiền lành thì mình phải đập tan và tiêu diệt cái ô uế, cái đau khổ và cái độc ác. Mà tiêu diệt chúng được chăng. Nếu “cái này có là nhờ cái kia có”, thì cái trong sạch cũng do cái ô uế mà có. Tiêu diệt cái ô uế tức là tiêu diệt luôn cái trong sạch, vì lẽ “cái này không thì cái kia không”. Kết luận là nên dung dưỡng cái ô uế, cái độc ác và cái đau khổ hay sao?”

Nhưng mà Nguyên Hưng ơi, tất cả những cặp đối nghịch đó chính đã là do chúng ta tạo nên bằng nhận thức của chúng ta, bằng lập trường sinh tâm lý của chúng ta. Hoan lạc và đau khổ trở nên những đại vấn đề. Nếu được như Quán Tự Tại soi thấu được chân tướng thực tại, thì những đau khổ tai nạn bốc khói bay mất. “độ nhất thiết khổ ách”. Cho nên hãy nhìn nụ cười đức Phật. Nụ cười đó trầm lặng thật, từ bi thật nhưng mà… coi thường chúng ta quá. Đó là một cách nói mà thôi bởi chính Phật đã nhờ đức Thường Bất Khinh Bồ-tát nhắn với mỗi người chúng ta rằng Ngài… không dám khinh chúng ta đâu, bởi vì tất cả chúng ta đều sẽ thành một vị Phật.

Có lẽ cái cảm tưởng trẻ con của tôi về nụ cười của Ngài là do một thứ mặc cảm tự ti lâu ngày tạo nên – chớ không phải tự tôn. Nguyên Hưng nhớ nhé. Trước nụ cười của người thấy được Niết bàn và Sinh tử đều là hoa đốm giữa hư không, ta cảm thấy ta bé nhỏ quá, vụng về quá, ngu si quá. Ngài thương chúng ta không phải vì chúng ta không thấy đường cho nên bị đau, thế thôi.

Từ hồi nhỏ, tôi đặt vấn đề bản chất của lòng từ bi, và tội nghiệp cho tôi, tôi chỉ học được và nếm được chút ít từ bi sau này không phải nhờ học tập hay nhờ đặt vấn đề mà nhờ khổ đau. Tôi không tự hào về chút khổ đau ấy; cũng như có ai tự hào về tiếng hét to sợ hãi của mình khi mình nhận lầm sợi giây là con rắn. Khổ đau của tôi cũng chỉ là sợi giây, cũng chỉ là hoa đốm giữa hư không, đáng lẽ nó phải tan biến như mây khói khi mặt trời lên! Nhưng mà nó vẫn chưa tan biến thành mây khói cho nên anh vẫn đau khổ và anh chịu không nổi nên anh tự vùng vẫy. Vậy Phật có thấy anh đau khổ không. Phật có chịu nổi khi thấy anh đau khổ không mà ông ngồi cười hoài vậy? Tôi lý luận rằng tình thương là phải có chấp thủ, tình thương nào cũng vậy, tình trai gái yêu nhau, tình mẹ thương con, tình nước non, tình nhân loại, tình chúng sinh, nghĩa là cả từ bi. Bởi vì thương ai, lo lắng cho ai anh cũng phải thao thức, mong mỏi, không thể lãng quên. Thế thì trông thấy chúng sinh đau khổ vô lượng vô biên thế kia, Phật cũng lo lắm chứ sao mà ngồi cười được hoài. Thật ra thì mình tạc tượng Ngài ngồi cười. Nhưng mà có phải hầu hết những đêm thức khuya, những lo lắng và thao thức của người có tình thương đều phát sinh vì người đó còn là người trần mắt thịt, đối với thực tướng vũ trụ vẫn còn “mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm” không? một ông bác sĩ biết rõ tình trạng bệnh nhân thì không ngồi giả định thế này thế kia để tạo ra một trăm ngàn giả thuyết và lo lắng như người thân nhân của bệnh nhân. Và nếu biết bệnh sẽ qua, thì ông có thể cười. Nhưng không phải là nụ cười độc ác. Đó chỉ là nụ cười của người biết chuyện, không còn phải lo hão huyền vô ích. Đại bi, maha karuna bản chất của nó, Nguyên Hưng ơi, làm sao tôi diễn tả cho được?

Nguyên Hưng, sự thực nằm ở đó, em làm quen với nó đi. Chỉ khi nào em bắt đầu thấy được giữa bùn đen kia với tuyết trắng nọ không có cái gì xấu cái gì đẹp, chỉ khi nào em biết bắt đầu nhìn sự thật với tâm niệm không phân biệt, nghĩa là biến kế, thì em mới có thể nếm được thế nào là đại bi.

Dưới con mắt của đại bi, không có tả không có hữu, không có thù không có bạn, không có thân không có sơ. Mà đại bi không phải làvật vô tri. Đại bi là tinh lực màu nhiệm của sáng chói.

Vì dưới con mắt của đại bi, không có cá thể riêng biệt của nhân ngã nên không có một hiện tượng nhân ngã nào động tới được đại bi.

Em ơi, nếu con người có độc ác đến nước móc mắt em hay mổ ruột em và em cũng nên mỉm cười và nhìn con người bằng cặp mắt xót thương; hoàn cảnh tập quán và sự vô minh đã khiến con người hành động như thế.

Hãy nhìn con người đã đành tâm tiêu diệt em và đang tạo nên cho em những oan ức khổ nhục lớn lao như trăm ngàn quả núi, hãy nhìn con người ấy với niềm xót thương. Hãy rót tất cả niềm xót thương từ suối mắt em vào người đó mà đừng để một gợn oán trách giận hờn xuất hiện trong tâm hồn. Vì không thấy đường đi nước bước cho nên cái người làm khổ em mới vụng dại lỗi lầm như vậy.

Giả sử một buổi sáng nào đó em nghe rằng tôi đã chết tăm tối và tàn bạo vì sự độc ác của con người, em cũng nên nghĩ rằng tôi đã nhắm mắt với một tâm niệm an lành không oán hận, không tủi nhục. Em nên nghĩ rằng giờ phút cuối tôi cũng không quay lại kẻ thù ghét con người. Không, con người chẳng bao giờ đáng cho ta thù ghét. Nghĩ như thế chắc chắn em sẽ mĩm cười được, rồi nhớ tôi, đường em, em cứ đi. Em có một nơi nương tựa mà không ai có thể phá đổ và cướp giật đi được. Và không ai có thể làm lay chuyển niềm tin của em, bởi vì niềm tin ấy không nương tựa nơi bất cứ một giả lập nào của thế giới hiện tượng. Niềm tin ấy và tình yêu là một, thứ tình yêu chỉ có thể phát hiện khi em bắt đầu nhìn thấu qua thế giới hiện tượng giả lập để có thể thấy được em trong tất cả và tất cả trong em.

Ngày xưa, đọc những câu chuyện như câu chuyện đạo sĩ nhẫn nhục để tên vua cường bạo xẻo tai cắt thịt mà không sinh lòng oán giận, tôi nghĩ đạo sĩ không phải con người. Chỉ có thánh mới làm được như vậy. Nhưng Nguyên Hưng ơi, tại lúc đó tôi chưa biết đại bi là gì. Đại bi là sự mở mắt trông thấy. Và chỉ có sự mở mắt trông thấy tận cùng mới khiến cho tình thương trở thành vô điều kiện, nghĩa là biến thành bản chất đại bi. Đạo sĩ nhẫn nhục kia đâu có sự giận hờn nào mà cần nén xuống? Không, chỉ có lòng thương xót. Giữa chúng ta và vị đạo sĩ kia, và vị Bồ-tát kia, không có gì ngăn cách đâu, Nguyên Hưng. Có thể tình yêu đã dạy cho em rằng em có thể làm được như Người.

3 thoughts on “Bát Nhã Tâm Kinh và Nhị Nguyên

  1. Trong lớp học, vị giáo sư Triết học ngắt giọng “Hãy để tôi giải thích vấn đề của khoa học đối với tôn giáo”, và ông yêu cầu một học sinh đứng lên.

    – Em theo đạo Chúa ?

    – Thưa Thầy, vâng.

    – Em tin vào Thượng Đế ?

    – Tất nhiên.

    – Thượng Đế có tốt không ?

    – Chắc chắn là tốt.

    – Có phải là Ngài Toàn năng ? Có thể làm được mọi việc ?

    – Thưa vâng.

    – Em là tốt hay xấu ?

    – Kinh Thánh bảo là kẻ xấu.

    Vị giáo sư cố ý cười, suy nghĩ chốc lát và bảo :”À ha ! Kinh Thánh ? Giả sử ở đây có người bệnh và em có thễ chữa lành. Em có khả năng. Em có giúp anh ta? Em có thử không ?

    – Thưa Thầy, em sẽ thử.

    – Vậy em là người tốt.

    – Em không có ý nói thế.

    – Tại sao lại không nói như thế? Nếu có thể, em sẽ giúp một người bệnh, tàn tật. Hầu hết chúng ta sẽ làm nếu có thể, nhưng Thượng Đế thì không !

    Cậu học trò không trả lời, và vị giáo sư tiếp tục. “Em trai tôi là tín đồ đạo Chúa đã chết vì ung thư mặc dầu đã từng cầu nguyện xin Chúa Jesus cứu chữa… Sao mà cho Chúa Jesus tốt được ? Em có thể trả lời được không ?.

    Cậu học trò vẫn im lặng.

    Vị giáo sư nói “em không thể trả lời phải không ?”. Ông cầm lấy ly trên bàn nhấp một ngụm nước tạo thời gian cho cậu học sinh bớt căng thẳng. “Chúng ta bắt đầu trở lại. Thượng Đế có tốt hay không ?”.

    – Dạ … tốt !

    – Quỷ Satan có tốt không ?

    Cậu học trò không ngại ngần : “Không”.

    – Vậy Satan đến từ đâu ?

    Cậu học trò ngập ngừng : “Từ Thượng Đế” .

    – Đúng thế. Thượng Đế tạo Satan. Em cho tôi biết có kẻ xấu ác trên thế giới này không ?

    – Dạ có .

    – Kẻ xấu ác có khắp nơi. Và Thượng Đế tạo mọi thứ, có đúng không ?

    – Dạ đúng.

    Vị giáo sư tiếp tục :

    – Vậy ai tạo ra kẻ xấu ác ?. Nếu Thượng Đế tạo ra mọi vật, thì Ngài tạo ra kẻ xấu ác. Do bởi xấu ác hiện hữu, và theo nguyên lý “hành động định danh con người”, vậy Thượng Đế là kẻ xấu ác.

    Cậu học trò lại không trả lời.

    – Có phải bệnh tật, vô đạo đức, hận thù và xấu xa hiện hữu trên cõi đời này ?

    Cậu học trò đứng im lúng túng “Thưa vâng”.

    – Vậy thì ai tạo ra chúng?

    Cậu học trò lại không trả lời để vị giáo sư lập lại câu hỏi “Ai tạo ra chúng ?”.

    Vẫn không có câu trả lời. Đột nhiên vị thầy bước đến trước lớp học. Cả lớp như bị mê hoặc. Ông tiếp tục hỏi một học sinh khác “Hãy nói cho tôi nghe !”.

    – Em có tin vào Đức Chúa không ?.

    – Vâng, Thưa Thầy, em tin.

    Vị giáo sư ngừng bước :

    – Khoa học bảo em có ngũ giác quan dùng để xác định và quan sát thế giới

    xung quanh. Em đã thấy Chúa Jesus bao giờ chưa ?

    – Thưa Thầy, em chưa bao giờ thấy Ngài.

    – Có bao giờ em cảm nhận được Chúa của em, nếm Chúa của em hay ngửi thấy Chúa của em ? Có bao giờ em có những cảm giác nhận biết Đức Chúa hay Thượng Đế ?

    – Thưa Thầy, đáng tiếc là em không có.

    – Em vẫn còn tin Chúa ?

    – Thưa vâng.

    – Theo quy tắc những giao thức thể nghiệm, khả nghiệm, và chứng minh được, khoa học bảo Thượng Đế không hiện hữu… Em nói như thế nào về điều đó ?

    – Không. Em chỉ có đức tin của em.

    – Vâng. Đức tin. Và đó chính là vấn đề khoa học đã có đối với Thượng Đế. Không có bằng chứng, chỉ có đức tin.

    Cậu học trò đứng lặng lẽ một lúc, trước khi hỏi : “Thưa Thầy, có cái gì là nhiệt không ?”.

    – Có.

    – Và có cái gì là lạnh không ?

    – Vâng, có cả lạnh nữa em à .

    – Thưa Thầy, không phải vậy.

    Vị giáo sư quay nhìn vào mặt cậu học trò tỏ vẻ thú vị. Cả lớp đột nhiên im lặng như tờ. Cậu học trò bắt đầu giải thích :

    – Thầy có thể có rất nhiều nhiệt, thậm chí thêm nhiều nhiệt, siêu nhiệt, vô hạn nhiệt, nhiệt trắng, một chút nhiệt hay không nhiệt, nhưng chúng ta không có cái gì gọi là “lạnh”. Ta có thể đạt xuống 458 độ dưới zero mà không có nhiệt, nhưng ta không thể xuống hơn thế nữa. Không có gì là “lạnh” hết; nếu không ta có thể đạt mức lạnh hơn độ thấp nhất là -458 độ. Mọi thể vật có thể nghiên cứu được khi chúng có hay truyền được năng lượng. Ở độ zero tuyệt đối (-458 F) hoàn toàn vắng bóng nhiệt. Thưa Thầy, Thầy có thấy “lạnh” chỉ là chữ ta dùng để diễn tả sự “vắng bóng nhiệt”. Ta không thể đo lường “lạnh” Ta có thể đo lường nhiệt theo những đơn vị nhiệt vì nhiệt là năng lượng. “Lạnh” không phải là đối nghịch của nhiệt. Thưa Thầy, đó chỉ là vắng bóng nhiệt.

    Cả lớp lặng im. Có cây bút rơi đâu đó, nghe như tiếng búa rơi.

    – Thưa Thầy, còn “bóng tối” ? Có cái gì là bóng tối không ?

    Vị giáo sư đáp lại không do dự :

    – Có. Đêm là gì nếu đó không là bóng tối ?

    – Thầy lại sai lầm. Bóng tối không là một cái gì cả ; chỉ là sự vắng mặt một cái gì đó. Thầy có thể có ánh sáng yếu, bình thường, ánh sáng mạnh, ánh sáng nháy, nhưng nếu ánh sáng không liên tục, Thầy chẳng có gì hết và phải chăng đó được gọi là bóng tối ? Và nếu thế, Thầy có thể làm bóng tối tối hơn, Thầy có thể làm được vậy hay không ?

    Vị giáo sư bắt đầu nở nụ cười với cậu học trò trước mặt. Đây hẳn sẽ là một học kỳ tốt đẹp. :

    – Người bạn trẻ, em muốn nói đến điều gì ?

    – Vâng thưa Thầy. Điều em muốn nói là tiền đề triết học Thầy khởi xuất là sai lầm, và kết luận của Thầy cũng thiếu sót.

    Lần này, nét mặt của vị giáo sư không che giấu được sự ngạc nhiên :

    – Sai lầm ? Em có thể giải thích được không ?

    Câu học trò giải thích :

    – Thầy đang tạo một tiền đề có hai mặt. Thầy tranh luận rằng có sự sống và rồi có sự chết; một Thượng Đế tốt và một Thượng Đế xấu. Thầy đang có khái niệm về Thượng Đế như là một gì hữu hạn, là một gì ta có thể đo đạc. Thưa Thầy, thậm chí khoa học không thể giải thích một ý nghĩ. Dùng điện và từ, nhưng chưa bao giờ thấy, không hoàn toàn hiểu được đầy đủ. Xem cái chết như là đối nghịch với sống là không hiểu gì hết, thực ra cái chết không thể hiện hữu như môt tồn tại độc lập. Chết không đối nghịch với sống, chỉ là vắng bóng sự sống.. Bây giờ Thầy cho em biết có phải Thầy dạy học trò rằng chúng “tiến hóa” từ khỉ ?

    – Người bạn trẻ ơi, nếu em đề cập đến quá trình tiến hóa thiên nhiên, vâng, tất nhiên tôi đã dạy như thế.

    – Có bao giờ Thầy dùng đôi mắt quan sát sự tiến hóa ?

    Vị giáo sư bắt đầu lắc đầu, vẫn cười mỉm như nhận ra cuộc tranh luận sẽ như thế nào. Thật là một học kỳ tốt đẹp.

    – Do bởi không một ai quan sát được quá trình tiến hóa và lại càng không minh chứng được nó đang tiếp diễn, sao Thầy không dạy những quan điểm của Thầy ? Phải chăng giờ đây Thầy chẳng là một khoa học gia, mà là một người thuyết giáo ?

    Cả lớp học náo động. Người học trò vẫn im lặng cho đến khi sự ồn ào lắng xuống.

    – Để tiếp nối vấn đề Thầy đã đặt ra cho bạn kia, em xin đưa một thí dụ để rõ ý của em.

    Người học trò nhìn quanh lớp :

    – Có ai trong các bạn đã từng nhìn thấy bộ não của Thầy ?

    Cả lớp bật vang tiếng cười.

    – Có ai trong các bạn đã từng nghe bộ não của Thầy ? cảm nhận bộ não của Thầy, rờ mó và ngửi bộ não của Thầy ? Chẳng thấy có ai làm vậy cả. Vậy thì, theo quy tắc những giao thức thể nghiệm, khả nghiệm, và chứng minh được, khoa học bảo Thầy không có bộ não, thưa Thầy, em vẫn với một lòng tôn kính. Vậy thì, nếu khoa học bảo Thầy không có bộ não, làm sao chúng em có thể tin vào các bài giảng của Thầy ?

    Giờ thì cả lớp lặng yên. Vị giáo sư chỉ nhìn chăm chăm học trò, khuôn mặt khó hiểu. Cuối cùng, tưởng chừng như vô tận, vị Thầy già trả lời :

    – Tôi đoán em sẽ phải đưa họ về lại với đức tin.

    Cậu học trò tiếp tục :

    – Bây giờ Thầy chấp nhận rằng có đức tin, và trên thực tế, đức tin hiện hữu với đời sống. Bây giờ, có cái gì là xấu ác không Thầy ?

    – Tất nhiên có. Chúng ta thấy hàng ngày. Những thí dụ vô nhân của người đối với đồng loại; vô số tội ác và bạo lực xảy ra khắp nơi trên thế giới. Những điều này biểu hiện không gì khác hơn là điều xấu ác.

    Cậu học trò trả lời :

    – Thưa Thầy, sự ác không hiện hữu, hoặc ít nhất nó cũng không tự nó hiện hữu. Đơn giản, sự ác là vắng bóng Thượng Đế. Cũng giống như bóng tối và lạnh, chỉ là ngôn từ con người đặt ra để diễn giãi sự vắng mặt của Thượng Đế. Thượng Đế không tạo ra sự ác. Sự ác chỉ là kết quả những gì khi con người không có tình yêu của Thượng Đế trong con tim của họ. Giống như “lạnh” đến khi không có nhiệt hay bóng tối đến khi không có ánh sáng.

    Vị giáo sư ngồi xuống…
    Cậu học sinh đó là Albert Einstein

    1. Người ta nghĩ có 2 Einstein. Một già. Một trẻ.
      Einstein già không dùng chữ God như một Almighty God who creates the universe.

      Vạn vật/thế giới hiện hữu trong những mối tương quan. (interdependent). Không có cái gì có thể hiện hữu độc lập. Cái này có thì cái kia có. Không có cái này thì cái kia cũng không. Không có cái sai thì không có cái đúng, Không có cái ác thì không có cái thiện, không có mẹ thì không có con (không có con thì cũng không có Mẹ!) không có bóng tối thì ánh sáng là từ vô nghĩa. Einstein già hiểu trọn vẹn, sâu sắc điều này. Khác với một Einstein trẻ trong khi cũng tin rằng vạn hữu không hiện hữu độc lập, nhưng thay cho lý duyên hợp là một đấng toàn năng, khi cho rằng sự ác, bóng tối, lạnh…là sự vắng mặt của một thượng đế.

      hdt

  2. Hôm nay với “Tuyết Trắng và Bùn Đen,” một ý niệm đã đến trong một thời gian và khg gian như hẹn trước, một cảm xúc vỡ oa như con mưa xối xả chiều nay, qua khung cửa kính của office, một màu xám đục phủ mờ, Nguyên Huệ nhớ đến những ngày còn nhỏ, với cơn mưa hè ở Huế, qua cửa sổ nhìn ra sau hè, mông lung trong vui buồn thương ghét và lòng chỉ muốn có thương vui đẹp tốt.

    Huệ ơi, này đã là ông Tú rồi đó, đã biết say mê với những đề tài triết học luân lý – đạo đức, với những căn bản số học nhị phân, một ý niệm về bóng tôi và ánh sáng, về thương yêu và hờn ghét, nhưng trong ta “tâm vẫn phân biệt”, sự độc ác, xấu xa vẫn có nơi trú ẩn trong ta, với nhiệt tâm của tuổi trẻ, ta vẫn say mê đi tìm chân lý của tình thương tuyệt đối, của cái đẹp vĩnh cửu, trong khi vẫn xua đuổi sự hận thù, ác độc và xấu xí.
    Thời gian trôi, cái Tâm của Nguyên Huệ cũng theo thời gian lớn lên, đã biết tìm đến Từ Bi Hỷ Xã để lý giải một phần của cuộc sống, thì cái Tâm bất Phân Biệt cũng đã hình thành đâu đó trong ta, cái xấu cũng là một phần của cái đẹp, tình thương yêu cũng là một phần của sự thù ghét, khg thể tồn tại hai trạng thái đối nghịch khác nhau, nó chỉ là một.

    Từ đó lòng bạo dung và độ lượng mới có nơi để khởi phát, sự thu hằn vẫn luôn bên cạnh sự thương yêu, không còn sự xua đuổi cái xấu xa, ác độc để dành lấy cái tốt đẹp và từ thiện, chỉ cho đến lúc mà cái bóng của cái đẹp, cái thiện đủ để che phủ phần đối nghịch.

    Tối nay cơn mưa đã tạnh sau những ngày rả rích, ánh sáng mặt trời đã lại chiếu sáng trong hoàng hôn, khg khí thật trong lành.
    Thật yên ổn làm sao.

    PhP

Leave a Reply